30-4 Qua Cách Nh́n Lịch Sử


Bài viết Trần Gia Phụng

Tŕnh bày ngày Chủ Nhật 27-4-2003
            tại Montréal, Canada. 

            Biến cố 30-4 đă diễn ra hơn một phần tư thế kỷ.  Những cảm xúc ban đầu đă qua đi, trầm lắng theo nhịp thời gian.  Nay đến lúc chúng ta thử đặt lại biến cố nầy trong khung cảnh lịch sử, để hướng đến tương lai chung cuả dân tộc.

 

1.-   NGUỒN GỐC NGÀY 30-4

 

            Hiệp định Genève được kư kết ngày 20-7-1954 giữa Pháp và các phe lâm chiến tại Việt Nam, Ai Lao, và Cao Miên để kết thúc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất từ 1946 đến 1954.  Chính phủ Quốc Gia Việt Nam, lúc đó do quốc trưởng Bảo Đại (1913-1997) đứng đầu, đă phản đối và không kư vào hiệp định, nhưng vẫn thi hành việc phân chia tạm thời Việt Nam thành hai khu vực với hai thể chế khác nhau, lấy sông Bến Hải (Quảng Trị) tại vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời.

Ở miền bắc vĩ tuyến 17, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH) do ông Hồ Chí Minh (1890-1969) và đảng Lao Động (LĐ) cầm đầu, theo chế độ cộng sản, thủ đô là Hà Nội, nằm trong hệ thống cộng sản quốc tế.  Ở miền nam vĩ tuyến 17, ông Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963) được quốc trưởng Bảo Đại chỉ định làm thủ tướng, và chính thức chấp chánh tại Sài G̣n ngày 7-7-1954, theo chế độ dân chủ tự do. 

Với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm ổn định t́nh h́nh chính trị miền Nam và  cuộc di cư cuả khoảng một triệu đồng bào ngoài Bắc vào Nam.  Ngày 23-10-1955, thủ tướng Diệm tổ chức trưng cầu dân ư, lật đổ quốc trưởng Bảo Đại.  Ngày 26-10-1955, ông tuyên bố thành lập nền Cộng Ḥa tại miền Nam theo tổng thống chế,(1) trong đó ông làm tổng thống của nước Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), thủ đô là Sài G̣n. 

Về liên lạc giữa hai miền Nam Bắc, điều 7 trong bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội Nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương" ngày 21-7-1954, ấn định rằng một cuộc tổng tuyển cử dưới sự kiểm soát của Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế dự trù sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956; các việc chuẩn bị sẽ được xúc tiến từ 20-7-1955.(2)  

Dựa vào đó, thủ tướng Bắc Việt là Phạm Văn Đồng (1906-2000) gởi thư ngày 19-7-1955 cho thủ tướng Nam Việt là Ngô Đ́nh Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955 để bàn về việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước.  Ông Ngô Đ́nh Diệm bác bỏ yêu cầu nầy ngày 10-8-1955, viện dẫn lư do chính phủ miền Nam không kư vào hiệp định Genève và v́  không có bằng chứng nào cho thấy Bắc Việt đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế Cộng sản.(3)

Bắc Việt tự tin chắc chắn sẽ chiến thắng nếu tổng tuyển cử được tổ chức lúc đó v́: 1) miền Bắc đông dân hơn miền Nam; 2) đảng LĐ (tức đảng Cộng Sản) kiểm soát dân chúng ngoài Bắc chặt chẽ hơn miền Nam; 3) trước khi tập kết lực lượng ra Bắc, cộng sản đă chôn giấu vũ khí và cài cán bộ đảng viên ở lại hoạt động bí mật tại miền Nam; 4) miền Nam liên tục bị xáo trộn từ khi ông Ngô Đ́nh Diệm về cầm quyền năm 1954. 

Chính phủ Nam Việt lúc đó chưa ổn định t́nh h́nh, đang gặp nhiều phân hóa, khó khăn v́: 1) sự chống đối của các lực lượng thân Pháp, của B́nh Xuyên, và của các giáo phái ở miền Nam; 2) sự chống đối của các đảng phái ở miền Trung; 3) giải quyết chỗ ở cũng như công ăn việc làm cho khoảng một triệu đồng bào từ Bắc di cư vào Nam; 4) tổ chức lại hệ thống hành chánh sau những thay đổi chính trị năm 1954, v́ ông Ngô Đ́nh Diệm không có một đảng phái mạnh mẽ tổ chức quy củ như đảng LĐ ở Bắc Việt.  Nhân tài ở miền Nam hoặc bị Việt Minh (cộng sản) giết, hoặc bị Việt Minh bắt đưa ra Bắc để cô lập.  Miền Nam chưa kịp đào tạo nhân sự nên trong thời gian đầu chính quyền thiếu người để làm việc.

V́ ông Ngô Đ́nh Diệm từ chối tổng tuyển cử, Bắc Việt liền chuẩn bị chiến tranh đánh chiếm miền Nam.  Đang lúc Bắc Việt bắt đầu chuẩn bị kế hoạch tấn công miền Nam, th́ xảy ra Đại hội 20 đảng Cộng Sản Liên Xô vào tháng 2-1956, theo đó tân lănh tụ Nikita Khrushchev (1894-1971) vạch tội nhà độc tài Joseph Stalin (1879-1953), và đưa ra chủ trương "sống chung ḥa b́nh" giữa các nước không cùng chế độ chính trị.

            Theo chủ trương trên, vào đầu năm 1957, chính phủ Liên Xô đề nghị hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt.  Đề nghị nầy bị nhà cầm quyền Bắc Việt quyết liệt phản đối.  Vào giữa tháng 5-1957, Kliment Voroshilov (1881-1969), chủ tịch đoàn Chủ tịch Tối cao Liên Xô, đến thăm Hà Nội.  Sau cuộc gặp gỡ với các lănh tụ Bắc Việt, Voroshilov tuyên bố Liên Xô sẽ gia tăng viện trợ cho Bắc Việt và bảo đảm rằng Liên Sô sẽ không chấp nhận cho VNCH gia nhập Liên Hiệp Quốc.  Quả thực sau đó, vào tháng 9 cùng năm, Liên Xô đă dùng quyền phủ quyết khi vấn đề nầy được đưa ra trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mà Liên Xô là một thành viên thường trực.(4)

Bắc Việt chống lại đề nghị ban đầu của Liên Xô đưa hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc v́ Bắc Việt quyết tâm tiến hành chiến tranh xâm lăng miền Nam.  Ngày 24-5-1958, Ban Bí thư Trung ương đảng LĐ ra chỉ thị tổ chức học tập chủ nghĩa Mác-Lê để xây dựng chủ nghĩa xă hội ở Bắc Việt và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Nam Việt.  Vào cuối năm nầy, ông Lê Duẩn (1907-1986), một nhân vật quan trọng trong đảng LĐ đặc trách Xứ uỷ Nam Bộ, được bí mật gởi vào Nam để nghiên cứu t́nh h́nh.(5)  Khi trở ra Bắc, bản báo cáo của ông Lê Duẩn đă đưa đến quyết định của Uỷ ban Trung ương đảng LĐ tại hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959, theo đó đảng LĐ ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng vơ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xă hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959).  Nghị quyết nầy được lập lại trong Đại hội 3 đảng LĐ, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960, mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xă hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng miền Bắc tiến lên Xă hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng vơ lực.

Ngày 20-12-1960, Hà Nội tuyên bố thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) do luật sư Nguyễn Hữu Thọ (1910-1996) đứng đầu.  Lúc đầu, mặt trận nầy không những chỉ gồm đảng viên cộng sản, mà c̣n có cả những người bất măn với chế độ Ngô Đ́nh Diệm.  Dần dần, Hà Nội thanh lọc hàng ngũ nhân sự và kiểm soát chặt chẽ mặt trận nầy, nhất là sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968.  Lúc đó, mặt trận nầy thành lập chính phủ Lâm Thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam do ông Huỳnh Tấn Phát (1913-1989) làm chủ tịch trong Đại hội từ ngày 6 đến 8-6-1969 tại vùng mật khu cộng sản gần biên giới Việt Miên trên quốc lộ 22. (Quốc lộ 22 là con đường từ Sài G̣n đi Tây Ninh, qua Cambodia.) 

Năm 1973, dầu rất lợi thế qua Hiệp định Paris ngày 27-1 chấm dứt chiến tranh Việt Nam, dầu hiệp định nầy đă được nhiều nước trên thế giới thừa nhận, Bắc Việt và MTDTGPMNVN vẫn vi phạm hiệp ước, tiếp tục gây chiến và tấn công VNCH.

Như thế, trước sau như một, Bắc Việt cương quyết đánh chiếm miền Nam, và từ chối mọi cơ hội có thể đưa đến thống nhất một cách ḥa b́nh giữa hai miền.(6)  Ngày 30-4-1975 đánh dấu đỉnh cao cuả quyết tâm nầy, một thắng lợi quân sự cuả Bắc Việt và MTDTGPMNVN.  Chính phủ VNCH sụp đổ, nhưng cuộc đối đầu Quốc Cộng phải chăng đă chấm dứt?

 

2.-   NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU

 

a)  Chiến thắng cuả VNDCCH:

Bắc Việt thắng được cuộc chiến là nhờ các yếu tố sau đây:

-  Đảng LĐ đă đưa ra một chính nghĩa dân tộc giả tạo, làm chiêu bài để mỵ dân, che đậy tham vọng quyết tâm đánh chiếm miền Nam bằng vơ lực, và tuyên truyền kêu gọi mọi người hy sinh v́ chiêu bài đó.  Ví dụ sau năm 1954, đảng LĐ kêu gọi “thống nhất đất nước”, rồi “chống Mỹ cứu nước”..., trong khi chính ông Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng LĐ, đă từng nói: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.”(7)

-  Đảng LĐ là một tổ chức chính trị có kỷ luật sắt thép, tạo nên một guồng máy đảng bắt mọi cá nhân phải đi vào vận hành cuả guồng máy đó, và tất cả những ai không theo lệnh đảng đều bị guồng máy nghiền nát.  Đảng viên được huấn luyện kỹ càng, trung kiên, tin tưởng vào lư thuyết Mác-xít một cách mù quáng, tuyệt đối vâng lệnh lănh đạo đảng.  Đảng đứng trên chính phủ, chỉ huy chính phủ, được bảo vệ tuyệt đối, đứng ngoài luật pháp và không bị đưa ra xét xử trước pháp luật, nên dù đă phạm phải những sai lầm lớn lao, vẫn không bị tai tiếng ảnh hưởng đến việc điều hành công cuộc cai trị.

-  Đảng LĐ cai trị Bắc Việt một cách độc đoán bằng những nghị quyết cuả đảng,(8) nắm vững mọi sinh hoạt xă hội và điều động xă hội Bắc Việt theo đúng chủ trương cuả đảng, không cần nhân quyền và dân quyền.  Tất cả những cá nhân nào không thi hành chính sách chủ trương cuả đảng LĐ đều bị bắt giết hay tù đày, đôi khi bí mật, đôi khi bằng những thủ tục pháp lư rất đơn giản, phi dân chủ.  Trong suốt 20 năm chiến tranh, từ 1954 đến 1975, ở Bắc Việt tất cả những cuộc phản kháng đều bị bóp chết ngay từ đầu và hầu như không có một cuộc biểu t́nh hay phản đối chống chính phủ ở Bắc Việt.(9)

-  Tổ chức tuyên truyền cuả đảng LĐ rất nhạy bén, che đậy chính sách cai trị cũng như sự điều hành chiến tranh,(10) biết khai thác nhược điểm cuả miền Nam và nhất là khai thác những trào lưu phản chiến ở Hoa Kỳ và trên thế giới, tạo hậu thuẫn chính trị quốc tế.

            -  Đảng LĐ được Quốc tế cộng sản viện trợ hết sức lớn lao.  Chẳng những Liên Xô, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH), mà cả khối Đông Âu, Bắc Hàn, Cuba đều tham chiến tại Việt Nam.(11)  Có thể nói toàn thể thế giới cộng sản là hậu phương lớn về mọi mặt cho đảng LĐ tiến hành chiến tranh ở miền Nam, và chiến thắng năm 1975 là chiến thắng cuả cả khối các nước cộng sản trên thế đối với VNCH nhỏ bé đang bị đồng minh bỏ rơi.

b)   Sự thất bại cuả VNCH:

            Ngày 30-4-1975 đánh dấu sự thất bại cuả VNCH.  Chế độ nầy là hậu thân cuả chế độ Quốc gia cuả cựu hoàng Bảo Đại.  Mục tiêu chính cuả chế độ Cộng Ḥa là xây dựng một đất nước tự do dân chủ ổn trị dựa trên luật pháp, không cộng sản và không chủ trương tấn công hay xâm lăng Bắc Việt.  Những cuộc đánh trả cuả VNCH, kể cả những cuộc đánh trả hay do thám miền Bắc, chỉ để trả đũa những hành động gây hấn cuả Bắc Việt mà thôi. 

            Sự thất bại cuả VNCH có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân sau đây:

            -  VNCH cố gắng thực thi nền dân chủ dầu vẫn đang có chiến tranh.  Nền dân chủ VNCH chưa được toàn vẹn như các nước tự do Tây phương, nhưng cũng đă để cho dân chúng sinh sống làm ăn một cách thoải mái trong luật pháp rơ ràng.  Dân chúng có quyền tư hữu, tự do tôn giáo, ngôn luận, báo chí, lập hội, đi lại... Do hoàn cảnh chiến tranh, các quyền tự do nầy đôi khi bị hạn chếá, nhưng dầu sao vẫn tự do hơn dưới chế độ cộng sản.  (Dân chúng thấy rơ điều nầy sau năm 1975.)  Đây chính là điểm son cuả chế độ nhưng cũng là điểm yếu cuả chế độ; v́ trong lúc chiến tranh, đối phương cộng sản đă lợi dụng điểm nầy kiếm cách qua mặt pháp luật, gây ô nhiễm dư luận, tuyên truyền phản chiến chống chính phủ.

-   Trong nội bộ Nam Việt, một số cá nhân các chính trị gia, tướng lănh trong quân đội, đoàn thể, đảng phái, và cả một số tổ chức tôn giáo, lạm dụng đặc tính tự do dân chủ cuả nền Cộng ḥa, đôi khi v́ tranh chấp quyền lợi và quyền lực, đă đưa đến những cuộc biểu t́nh, phản đối, biểu dương lực lượng, gây xáo trộn, làm mất trật tự và tê liệt xă hội, ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu cuả binh sĩ.

            -   Tại miền Nam, tệ nạm tham nhũng làm cho dân chúng và cả quân đội mất dần niềm tin vào chế độ, cũng như làm giảm uy tín cuả VNCH trên chính trường quốc tế.  Tệ nạn tham nhũng ở Bắc Việt cũng lớn lao, nhưng được bưng bít kỹ lưỡng nên tai tiếng được hạn chế.

            -  Một số cá nhân, tổ chức chính trị hay tôn giáo chủ trương "trung lập" theo một ư nghĩa rất đơn giản: "trung lập" là đứng giữa, không theo chính phủ Quốc gia, cũng không theo cộng sản.   Định nghĩa như thế chỉ đúng khi sinh sống ở nước ngoài; đứng giữa và không theo bên nào, tức không làm bên nào lợi, cũng không làm bên nào hại.  Ngược lại, nếu sống trong một nước đang bị cộng sản tấn công như VNCH, và cộng sản bị đặt ra ngoài ṿng pháp luật, "trung lập" cách nầy hoàn toàn có lợi cho cộng sản, v́ lấy cớ "trung lập", làm lơ cho cộng sản hoạt động, không khác ǵ tiếp tay cho cộng sản và làm hại VNCH. 

            -   Nền văn hóa và văn nghệ tự do ở miền Nam bị làn sóng văn nghệ phản chiến và uỷ mị tràn ngập làm cho tinh thần thanh niên, sinh viên yếu hèn, tinh thần binh sĩ ngoài tiền tuyến dao động.

            -   Hoạt động nội tuyến sâu kín cuả cộng sản thâm nhập vào tận những cơ sở cao cấp như phủ Tổng thống, văn pḥng các cấp chỉ huy hành quân, nhưng những nguyên tắc và thủ tục pháp lư rườm rà cuả một chế độ dân chủ tự do, hoặc những liên hệ t́nh cảm, và ngay cả tham nhũng nữa, đă gây trở ngại không ít cho việc loại bỏ những phần tử điệp viên cộng sản trong chính phủ.

            -   Một số gia đ́nh ở miền Nam có chồng và con em tập kết ra Bắc đă nuôi dưỡng giấu diếm cán bộ cộng sản.  Họ mong cho miền Nam sớm sụp đổ, chồng con trở về đoàn tụ với gia đ́nh.  Số gia đ́nh nầy càng ngày càng nhiều khi những người ở ngoài Bắc viết thư hay lén lút trở về hoạt động, đă kêu gọi con em trong gia đ́nh trong Nam thoát ly theo du kích cộng sản.  Ngoài ra, một số dân miền Nam tin vào những lời cộng sản tuyên truyền, nên khi gặp khó khăn hay bất măn trong sinh hoạt hằng ngày, liền đặt hy vọng nơi cộng sản, để mong thay đổi tương lai.

Điểm quan trọng nhất là chính quyền, quân đội và cả dân chúng miền Nam, sống trong môi trường văn hóa dân tộc cổ truyền, có tính nhân bản, hiền ḥa, đi đến chỗ bao dung ngay cả với những người cộng sản.  Đặc tính nhân bản, bao dung, tôn trọng tự do dân chủ, cùng sống với người khác và để người khác cùng sống với ḿnh, chính là truyền thống tốt đẹp cuả dân tộc Việt.  Truyền thống nầy có thể tạm thời lùi bước trước bạo lực, nhưng truyền thống nầy tiềm tàng trong sức sống bền bĩ cuả người Việt, không thể nào bị tiêu diệt.  Chính truyền thống nầy nuôi dưỡng người Việt tiếp tục tranh đấu bảo vệ chính nghĩa dân tộc sau khi chính phủ VNCH đă thất trận trong cuộc chiến năm 1975.

c)   Sự thay đổi cuả Hoa Kỳ

            Một nhân tố quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam là Hoa Kỳ.  Sau hiệp định Genève 1954, Hoa Kỳ đă hậu thuẫn mạnh mẽ cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm tại Việt Nam.  Hoa Kỳ đă giúp ông Diệm thành lập chế độ cộng ḥa theo mẫu tổng thống chế cuả Hoa Kỳ.

            Việc Bắc Việt cương quyết mở cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam là cơ hội tốt để Hoa Kỳ biện minh cho sự hiện diện cuả họ tại miền Nam.  Càng ngày Hoa Kỳ càng đưa thêm nhiều cố vấn quân sự qua VNCH.  Sau khi tổng thống Ngô Đ́nh Diệm bị một nhóm tướng lănh đảo chánh và sát hại ngày 2-11-1963, mà dư luận cho rằng do mưu tính cuả một số chính trị gia Hoa Kỳ, t́nh h́nh chính trị Nam Việt càng ngày càng xấu, chiến tranh càng ngày càng leo thang, Hoa Kỳ càng tăng gia quân số tại Việt Nam.

Ngày 2 và 4-8-1964, tại vịnh Bắc Việt, xảy ra việc chiến hạm Maddox cuả Hoa Kỳ bị tấn công trong lúc đang hoạt động trong hải phận quốc tế.  Lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ đưa ra "Quyết nghị vịnh Bắc Việt" (The Gulf of Tonkin Resolution) ngày 7-8-1964 hoàn toàn ủng hộ tổng thống Lyndon Johnson (1908-1973) trong việc mở rộng chiến tranh Việt Nam.  Từ đó, Hoa Kỳ đưa quân tham chiến trực tiếp vào Việt Nam.  Quân số Hoa Kỳ tăng gia nhanh chóng, từ khoảng trên 20.000 cố vấn và chuyên viên cuối năm 1964, lên đến 486.000 quân cuối năm 1967.(12) 

Ở đây có hai điều cần ghi nhận:

Thứ nhất, Hoa Kỳ là một nước dân chủ, theo tổng thống chế.  Tổng thống được dân chúng bầu ra với nhiệm kỳ bốn năm.  Tổng thống thường là ứng viên cuả một trong hai đảng Cộng Ḥa và Dân Chủ.  Do đó, chính phủ Hoa Kỳ do tổng thống đứng đầu, phải luôn luôn điều chỉnh chính sách cho phù hợp với dư luận và quyền lợi thực tế cuả dân chúng, nhất là giới tư bản đầy quyền lực trong nước, mới hy vọng ứng viên cuả đảng ḿnh được dân chúng bầu lên. 

Thứ nh́, Hoa Kỳ là một cường quốc nắm giữ vai tṛ quan trọng trong bang giao quốc tế, nên chính phủ Hoa Kỳ luôn luôn điều hợp chính sách cuả ḿnh trong khung cảnh toàn bộ thế giới và phù hợp với quyền lợi cuả Hoa Kỳ trên thế giới. 

Do đó, chính phủ Hoa Kỳ điều hành chiến tranh Việt Nam theo quan điểm thực dụng, dựa trên  quyền lợi cuả nhân dân và tư bản Hoa Kỳ, và tương quan với nền bang giao quốc tế cuả Hoa Kỳ, chứ không phải v́ quyền lợi cuả những nước hợp tác, kể cả các đồng minh cuả Hoa Kỳ.

            Cuộc tham chiến trực tiếp cuả quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam bị các nhóm phản chiến ở Hoa Kỳ và trên thế giới phản đối dữ dội, nhất là sau biến cố Tết Mậu Thân (1968).  Các nhóm phản chiến phản ảnh một phần quyền lợi cuả dân chúng và tư bản Hoa Kỳ, đồng thời đàng sau các nhóm phản chiến nầy, chắc chắn có sự góp sức cuả  cộng sản quốc tế và CSVN.

Trong lúc giúp đỡ VNCH, từ đầu thập niên 60, các chính trị gia Hoa Kỳ càng ngày càng nhận thấy rằng hai nước cộng sản Liên Xô và Trung Hoa không đoàn kết chặt chẽ như họ tưởng trước đây, mà hai nước nầy có những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng.(13)  CHNDTH càng ngày càng tự tin và hiếu chiến, nhất là từ khi họ thử nghiệm thành công quả bom hạch tâm vào tháng 6-1967,(14) và trở thành cường quốc nguyên tử đầu tiên ở Á Châu.  Dựa trên địa lư chính trị học (geopolitics), người Hoa Kỳ c̣n thấy rằng Bắc Việt không nguy hiểm bằng Liên Xô và CHNDTH là hai nước sở đắc vũ khí nguyên tử có thể đe doạ Hoa Kỳ và các nước khác.  V́ vậy, Hoa Kỳ quyết định thay đổi chiến lược toàn cầu, chấp nhận rút quân khỏi miền Nam Việt Nam để bắt tay với CHNDTH, ngơ hầu chia rẽ nước nầy với Liên Xô.(15)

            Sau những cuộc mật đàm với CHNDTH, Hoa Kỳ mở đường cho chế độ nầy thay thế Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan, người bạn đồng minh lâu năm cuả Hoa Kỳ) giữ ghế đại diện Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc (LHQ) trong phiên họp cuả Đại hội đồng LHQ lần thứ 26, ngày 25-10-1971.  (Vai tṛ cuả Trung Hoa tại LHQ rất quan trọng v́ Trung Hoa là một thành viên thường trực cuả Hội Đồng Bảo An LHQ, có quyền phủ quyết.)  Sau đó, tổng thống Richard Nixon (1913-1994) viếng thăm CHNDTH một tuần, bắt đầu từ ngày 21-2-1972 mà ông Nixon cho rằng đây là “một tuần lễ sẽ làm thay đổi thế giới.”(16) 

Đúng như ông Nixon loan báo, cuộc viếng thăm đă đưa đến việc thay đổi thế giới, bắt đầu từ việc Hoa Kỳ sắp đặt lại chiến lược toàn cầu và Á Châu, từ đó rút quân dần dần ra khỏi Việt Nam.  Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam theo đúng chiến lược của họ, bởi v́ lúc đó người Mỹ tin rằng "thua trận ở Việt Nam lành mạnh hơn cho Hoa Kỳ hơn là thắng trận. Rằng thua trận nằm trong quyền lợi quốc gia.  Rằng đó là lợi thế... Đó là quan niệm cấp tiến triệt để vào thời đó, rằng thua trận và phó mặc các đồng minh Đông nam Á của chúng ta cho số phận của họ, như thế mới đúng là cách làm của chúng ta."(17)

            Nói cách khác, không giúp được VNCH chiến thắng ở Việt Nam, mà nhiều người cho rằng điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ đă thất bại, Hoa Kỳ quyết định rút lui khỏi Việt Nam để củng cố nội bộ Hoa Kỳ, và t́m kiếm một đường lối khác giải quyết cuộc chiến tranh lạnh có tính cách toàn cầu với Liên Xô, theo quyền lợi cuả Hoa Kỳ, và không cần đếm xiả ǵ đến người bạn đồng minh VNCH, cũng như trước đó không bao lâu, Hoa Kỳ thẳng tay loại bỏ người bạn đồng minh Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi Liên Hiệp Quốc.  Đây là một kinh nghiệm quư báu cho những ai muốn dựa vào Hoa Kỳ hoặc muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ.

            Hiệp định Paris được kư kết ngày 27-1-1973 theo đó Hoa Kỳ rút quân và tháo gỡ toàn bộ căn cứ quân sự tại Nam Việt trong ṿng 60 ngày, nhưng quân đội Bắc Việt vẫn đóng giữ tại chỗ các phần đất đă chiếm được tại Nam Việt và tiếp tục được toàn khối cộng sản yểm trợ.  Bắc Việt không ngừng kiếm cách lấn đất giành dân.  Thế là chiến tranh cứ tiếp diễn sau hiệp định Paris.  Quân đội VNCH cố gắng một ḿnh chiến đấu, nhưng cuối cùng thiếu tiếp liệu, đành chấp nhận buông súng.

            Một điểm ghi nhận quan trọng:  Do chủ trương đồng minh giai đoạn, từ 1954 đến 1975 Hoa Kỳ không kư bất cứ một hiệp ước nào với VNCH.  Bang giao giữa hai nước chỉ dựa trên sự thương thảo cam kết giữa hai chính phủ mà thôi.  Những nhà lănh đạo Hoa Kỳ tránh né điều nầy, v́ hiệp ước phải được đưa ra quốc hội biểu quyết, và ràng buộc Hoa Kỳ phải thi hành những điều cam kết.  Trong khi các nhà lănh đạo VNCH, theo truyền thống Đông phương, một lời nói ra, xe bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp, tin tưởng trên lời hứa danh dự cuả các nhà lănh đạo chính phủ Hoa Kỳ.  Trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ, tất cả những cam kết quốc tế cuả hành pháp (chính phủ) phải được lập pháp (quốc hội) thông qua mơi có giá trị.  V́ không có một hiệp ước “hữu nghị”, hay “hỗ tương pḥng thủ” giữa Hoa Kỳ và VNCH được quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, nên khi thay đổi chính sách, Hoa Kỳ rút lui phần họ mà không bị một ràng buộc pháp lư nào với VNCH.

 

3.-   NHỮNG HẬU QUẢ LÂU DÀI

 

a)   Đất nước thống nhất nhưng suy yếu:

            Khi đang c̣n chiến tranh, cộng sản che giấu kỹ lưỡng những ǵ xảy ra ở miền Bắc, và chưa tỏ lộ chân tướng cuả ḿnh.  Người dân miền Nam chỉ hiểu biết mơ hồ về cộng sản qua tuyên truyền.  Sau khi nắm quyền toàn bộ đất nước năm 1975, không c̣n đối lực, cộng sản Việt Nam công khai thi hành chuyên chính vô sản, bắt mọi người phải đi vào khuôn khổ của của chính sách cộng sản, từ vật chất đến tinh thần.  Việc áp đặt chủ nghĩa cộng sản biểu lộ rơ ràng nhất khi đảng LĐ ra lệnh cho Quốc hội Hà Nội đổi quốc hiệu từ VNDCCH thành Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), trong phiên họp ngày 2-7-1976.(18)   Quốc hiệu nầy rơ rệt mang ư nghĩa cộng sản.  Sau đó, trong Đại hội đảng LĐ lần thứ 4, từ 14 đến 20-12-1976, đảng LĐ chính thức đổi tên thành đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). 

Đảng LĐ đổi tên thành đảng CSVN là quyền riêng cuả họ, nhưng đảng LĐ, với một tỷ lệ đảng viên rất thấp so với toàn bộ dân số Việt Nam, đổi quốc hiệu theo ư nghĩa cộng sản là cưỡng ép dân chúng Việt Nam phải chấp nhận chủ nghĩa cuả họ.  Sựï cưỡng ép nầy c̣n thấy rơ trong câu khẩu hiệu chiến lược cuả cộng sản: "Yêu tổ quốc là yêu chủ nghĩa xă hội".  Từ thời lập quốc, tổ tiên chúng ta chiến đấu giành độc lập và bảo vệ độc lập v́ yêu tổ quốc, mà đâu cần có xă hội chủ nghĩa.  Ngoài ra, CSVN c̣n áp đặt thay thế tên thành phố Sài G̣n bằng tên lănh tụ cuả họ là Hồ Chí Minh.  Đây là một hành động rập khuôn theo Liên Xô.

            Về phương diện chính trị, tất cả những cá nhân hay đoàn thể không cộng sản hoặc chống cộng sản đều bị bắt, các đảng phái bị tiêu diệt.  Không có một đoàn thể nào được sinh hoạt ngoài đảng Cộng Sản và những tổ chức vệ tinh cuả đảng như Mặt trận Tổ Quốc hay đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh.  Ngay cả MTDTGPMNVN cũng bị giải tán, và các cán bộ lănh đạo Mặt trận nầy nếu không tự khép ḿnh vào khuôn khổ đảng CSVN, cũng bị cô lập hoặc tù đày.  Khoảng 1.000.000 quân nhân công chức, cán bộ chế độ VNCH bị giam giữ dài hạn không tuyên án trong các trại tù tập trung mà cộng sản gọi là học tập căi tạo.(19)    

Dân chúng miền Nam vốn sống trong không khí tự do dân chủ, không chấp nhận chủ trương độc quyền chân lư và độc quyền cai trị xă hội bằng độc đảng, nên nhiều cuộc nổi dậy đă bùng lên, từ Huế vào đến Sài G̣n, và cả các miền thôn quê.  Những cuộc chống đối nầy có tính cách tự phát riêng lẽ tại điạ phương, không tạo thành phong trào chung có tổ chức, và không có sự giúp đỡ từ ngoài.  Khi bị cộng sản đàn áp, những nhân sự trong tổ chức nầy không có hậu cứ để rút lui, không có lối thoát thân, nên  bị bắt ngay tại chỗ và thất bại nhanh chóng.  Tuy nhiên những cuộc nổi dậy nầy chứng tỏ sự can đảm tuyệt vời và tinh thần bất khuất cuả dân chúng Việt Nam.

Tại cao nguyên Nam Trung Phần, FULRO (Le Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) tức Mặt Trận Thống Nhất Chiến Đấu Cuả  Các Sắc Tộc Bị Áp Bức tái hoạt động.  Mặt trận nầy gồm nhiều sắc dân miền núi, được thành lập để chống lại chính sách dinh điền cuả tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, nhưng về sau lại hợp tác với chính phủ VNCH, bảo vệ thôn làng chống lại những cuộc tấn cộng cuả cộng sản.  Sau năm 1975, khoảng 2.000 người các sắc tộc trong Mặt trận FULRO tái xuất hiện, nổi lên chống nhà cầm quyền cộng sản, cho đến năm 1984 mới chấm dứt.  Năm 1985, khoảng 200 chiến binh FULRO bỏ sang Cambodia, rồi Thái Lan và được đưa đi định cư ở các tiểu bang Bắc và Nam Carolina (Hoa Hỳ).(20)

Nói chung, tuy thống nhất đất nước nhưng nhà cầm quyền cộng sản không thống nhất được nhân tâm và không tạo được sự đoàn kết trong dân chúng Việt Nam sau năm 1975.

Về phương diện kinh tế, nhà cầm quyền cộng sản quốc hữu hóa toàn bộ công ty, xí nghiệp tư nhân ở thành phố, đất đai ruộng vườn ở nông thôn, ngăn sông cấm chợ, kiểm soát chặt chẽ tất cả mọi sinh hoạt sản xuất và làm ăn buôn bán cuả dân chúng, đánh tư sản đồng thời đổi tiền nhiều lần để chiếm đoạt tài sản cuả dân chúng.  Nền kinh tế miền Nam đang phồn thịnh bỗng dưng bị tê liệt v́ chính sách kinh tế chỉ huy cuả nhà cầm quyền mới.  Tất cả những sự kiện trên, đă làm cho đất nước suy yếu hơn bao giờ cả. 

Trong khi đất nước suy yếu, CSVN lại đưa quân xâm lăng Cambodia vào tháng 1-1979, thực hiện nghĩa vụ quốc tế với Liên Xô, để tiếp tục xin viện trợ từ khối COMECON ở ngoài nước,(21) và huy động tài nguyên quốc gia ở trong nước, làm cho đất nước càng kiệt quệ hơn.(22)

V́ Việt Nam xâm lăng qua Cambodia, CHNDTH trả đũa bằng cách xua quân tấn công 6 tỉnh biên giới Bắc Việt vào tháng 2-1979.  Chẳng những 6 tỉnh nầy bị tàn phá, mà nền kinh tế toàn bộ đất nước suy sụp theo.  Trung Hoa vốn là một nước lớn, luôn luôn chủ trương bành trướng bá quyền, chờ đợi cơ hội xâm lăng Việt Nam.  Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, CHNDTH độc bá thế giới cộng sản.

Không thống nhất được nhân tâm, nhà cầm quyền cộng sản lại làm cho đất nước suy sụp hoàn toàn về phương diện kinh tế.

Mất hậu thuẫn từ phiá Liên Xô, CHXHCNVN lúng túng, quay qua nương tựa vào CHNDTH, là cơ hội thuận tiện cho CHNDTH thực hiện mưu đồ thôn tính, thúc ép CHXHCNVN kư kết liên tiếp hai hiệp ước trong khoảng một năm.  Đó là Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc kư tại Hà Nội ngày 30-12-1999 và Hiệp ước phân định lănh hải kư tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000.  Theo hai hiệp ước nầy, Việt Nam đă mất ải Nam Quan lịch sử, mất một số đất đai ở biên giới tây bắc, và mất thêm 8% diện tích vịnh Bắc Việt.  Sự kiện nầy chính là một trong những hậu quả lâu dài cuả biến cố ngày 30-4-1975.

Thống nhất đất nước để làm cho đất nước chia rẽ, nghèo đói, suy sụp và mất đất đai vào tay người ngoại quốc là những sai lầm lịch sử trầm trọng cuả nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

b)   Phong trào vượt biên:

             Cuộc chống đối thầm lặng, nhưng mạnh mẽ và rộng lớn là hàng triệu người Việt Nam đă bỏ nước ra đi từ sau năm 1975.  Cuộc vượt biên cuả người Việt có thể tạm chia thành 4 giai đoạn: (những con số dưới đây chỉ phỏng chừng, không chính xác, lấy tin qua các báo)

Giai đoạn 1:  Ngay sau biến cố 30-4-1975 và vài tháng kế tiếp, khoảng từ 100.000 đến 150.000 người bỏ ra đi, đại đa số tỵ nạn ở Hoa Kỳ.

Giai đoạn 2: Từ 1978 đến 1980, khoảng 500.000 người ra đi, trong đó đa số là người Việt gốc Hoa, theo phong trào gọi là "bán chính thức".  Khoảng một nửa số nầy qua Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, lúc đó đang đối đầu với CHXHCNVN.  Số c̣n lại qua Hồng Kông và các đảo Đông Nam Á. (Năm 1978 là năm ông Đỗ Mười, bí thư trung ương đảng CSVN, vào Nam phát động chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, nhưng thực chất là đánh giới tư sản, nhất là nhắm vào giới tư sản người Việt gốc Hoa. V́ việc nầy, nền kinh tế Việt Nam suy sụp hẳn từ đây và đa số người Việt gốc Hoa bỏ ra đi.)

Giai đoạn 3:  Từ 1981 đến 1989 (trước thời điểm Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc ra lệnh các trại tỵ nạn khóa sổ, không nhận người vượt biên), khoảng 500.000  thuyền nhân đến các đảo Hồng Kông, Palawan (Phi Luật Tân), Bidong (Malaysia), Galang (Indonesia), các trại ở Thái Lan... rồi từ đó đi định cư khắp thế giới.

Giai đoạn 4:  Từ 1989 đến 1996, tức từ khi Liên Hiệp Quốc khóa sổ (1989) cho đến lúc giải tán vĩnh viễn các trại tỵ nạn (1996), số người ra đi vẫn tiếp diễn, khoảng 200.000 người, cũng qua các đảo trên, phải trải một cuộc thanh lọc để được xác nhận là tỵ nạn chính trị mới được đi định cư.  Ai không “đậu” thanh lọc th́ bị trả về Việt Nam.

            Người Việt Nam vốn rất gắn bó với đất đai, ruộng vườn, quê cha đất tổ.  Họ chỉ ra đi trong thế cùng, không c̣n cách nào có thể sinh sống tại quê hương cuả ḿnh.  Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ Hà Nội bằng chính mạng sống cuả ḿnh.  Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quê hương để phục quốc.  Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được.  Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400.000 đến 500.000 thuyền nhân bỏ ḿnh trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.

            Các điểm sau đây cần lưu ư:

            *  Cuộc vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam từ khi lập quốc cho đến nay.  Đây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới.  Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế.

            *  Thời gian phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975.  Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng bằng tổng số quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975.

*  Sự vượt biên vĩ đại cuả dân chúng Việt chứng tỏ dân chúng không hợp tác với nhà cầm quyền CSVN và nêu cao tinh thần yêu chuộng tự do cuả người Việt.

*  Sự vượt biên ào ạt bất chấp mạng sống cuả người Việt đă làm rúng động lương tâm nhân loại, và đă phơi trần bản chất độc tài chế độ cộng sản Việt Nam trước công luận thế giới.  Sự kiện nầy làm hoen ố h́nh ảnh CSVN, và luôn cả h́nh ảnh cộng sản quốc tế.  Phải chăng chính v́ sự kiện nầy mà nhân dân thế giới thêm chán ghét cộng sản và từ đó đă giúp đỡ thúc đẩy các nước Đông Âu gấp rút ly khai với chủ trương cộng sản, đưa đến sự sụp đổ nhanh chóng cuả khối cộng sản Đông Âu và Liên Xô vào các năm 1990, 1991?

*  Ngược lại với phong trào vượt biên càng ngày càng lan rộng từ năm 1975, chủ nghĩa cộng sản càng ngày càng suy tàn ở Việt Nam cũng như trên thế giới.  Khi phong trào vượt biên chấm dứt năm 1996 th́ chủ nghĩa cộng sản cũng xem như cáo chung.(23) 

c)   Sự tan ră cuả chủ nghĩa cộng sản:

            Tuy ngày 30-4-1975 đánh dấu sự thành công cuả Bắc Việt và MTDTGPMNVN, nhưng mặt khác, ngày nầy cũng là khởi điểm tan ră cuả chủ nghĩa cộng sản.

            Sau ngày 30-4, quân và dân miền Bắc tràn vào miền Nam đă chứng kiến một thực tế thật bất ngờ đối với họ: dân chúng miền Nam giàu có, sung túc hơn miền Bắc, có quyền tư hữu đất đai, ruộng vườn nhà cửa, khác hẳn với sự tuyên truyền trước đó cuả cộng sản.  Một số người miền Nam, trong đó có cả những đảng viên cộng sản, vốn tin tưởng và hy vọng vào chủ nghĩa cộng sản, nay được nghe tận tai, nh́n tận mắt những thực tế khổ nạn mà bà con ruột thịt ở ngoài Bắc phải chịu đựng trong 20 năm qua.  Tất cả những người nầy cảm thấy bị phỉnh gạt và từ đó niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản nơi họ sút giảm hẳn đi.

            Về kinh tế, hàng hóa miền Nam được tuôn ra Bắc.  Người Bắc học cách thức sản xuất, làm ăn theo kiểu miền Nam.  Chính nền kinh tế miền Nam, dầu bị cộng sản cải tạo nhiều đợt, đă cứu nguy và vực dậy nền kinh tế miền Bắc, đồng thời chấm dứt nền kinh tế chỉ huy cuả cộng sản.  Chế độ cộng sản mà không theo kinh tế chỉ huy th́ thực chất không c̣n là cộng sản.

            Về xă hội, người Bắc dần dần học theo cách sống người Nam, ăn bận theo lối Nam.  Về văn hóa, nền văn hóa cổ truyền được bảo lưu ở miền Nam, nay lại có dịp tiến ra Bắc.  Nhờ sự tiếp sức âm thầm cuả miền Nam, chùa chiền, nhà thờ ở ngoài Bắc hoạt động trở lại, dầu nhà cầm quyền cộng sản tiếp tục gây trở ngại.  Người Bắc được dịp tiếp xúc với sách vở, báo chí, văn học, nghệ thuật, âm nhạc phong phú cuả miền Nam.  Qua những sách vở báo chí đó, họ lại có dịp học hỏi những điều mới lạ trên thế giới trong 20 năm qua mà họ bị bưng bít. 

Nói một cách cụ thể, nơi bất cứ người dân nào cuả miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung, dầu thường dân hay đảng viên cộng sản, sau năm 1975 chủ nghĩa cộng sản đă tan ră ngay từ trong ḷng họ.  Bề ngoài, v́ lo sợ và v́ quyền lợi cá nhân cũng như gia đ́nh, người ta c̣n giữ thẻ đảng, nhưng thật tâm, ai cũng thấy đảng Cộng Sản đă lỗi thời nếu không muốn nói là đă gây quá nhiều tác hại cho đất nước.  Chính con cái cuả những nhân vật cao cấp trong đảng như Vơ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh ...  cũng đă ly khai với đảng, vượt biên qua Âu Mỹ.

Sau những đợt đổi tiền, cải tạo công thương nghiệp, tiêu diệt tư sản mại bản, đánh tư sản dân tộc, hợp tác hóa nông nghiệp, tịch thu tài sản và đất đai cuả dân chúng, cuối cùng hiểm hoạ nghèo đói đe doạ đến chính sinh mạng cuả đảng CSVN.  Để tự cứu ḿnh đảng nầy đành phải thay đổi, cải cách, mở cửa, trở về với nền kinh tế thị trường, tức kinh tế tự do như trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam.  Bao nhiêu công tŕnh xây dựng chủ nghĩa xă hội ở ngoài Bắc nay hoàn toàn tan ră 20 năm sau biến cố 30-4-1975. 

Việc CSVN thay đổi để tự cứu ḿnh gây ảo giác cho một số người, nhất là khách du lịch, khiến họ tưởng rằng CSVN nay đă lột xác, để cho dân chúng tự do sinh sống.  Trong thực tế ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, báo chí, lập hội, đ́nh công, bầu cử, văn hóa, tôn giáo...Trong khi dân chúng vẫn c̣n đói khổ, nhất là ở nông thôn, những lănh tụ đảng CSVN đều là những nhà tư bản đỏ, giàu có hơn bất cứ những nhà lănh đạo nào trước đây cuả Việt Nam.(24)  Việc giàu có nhanh chóng cuả những lănh tụ CSVN là dấu hiệu t́nh trạng tham ô nhũng lạm trầm trọng hiện nay ở trong nước.

Chẳng những riêng Việt Nam, mà cả khối cộng sản trên thế giới, sau năm 1975 tiếp xúc với nền kỹ thuật tiến bộ và nền  kinh tế phồn thịnh cuả chế độ cũ c̣n để lại ở miền Nam Việt Nam, cũng đă chuyển đổi theo.(25)  Các nước Đông Âu, lâu nay bị bưng bít dưới chế độ Liên Xô, nay bừng mắt khi qua tham khảo tại miền nam Việt Nam, đă đẩy mạnh những phản kháng trong nước họ, đưa đến sự sụp đổ cuả khối Đông Âu, rồi từ đó cả Liên Bang Sô Viết năm 1991.  Sự sụp đổ cuả khối Đông Âu và Liên Xô chấm dứt luôn chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản do Hoa Kỳ dẫn đầu và cộng sản do Liên Xô lănh đạo.

Cường quốc thứ nh́ trong khối cộng sản là CHNDTH.  Sau khi Mao Trạch Đông (Mao Zedong, 1893-1976) từ trần năm 1976, Đặng Tiểu B́nh (Deng Xiao-ping, 1904-1997) trở lại nắm quyền, đă vội vă mở cuộc cải cách để cứu văn t́nh h́nh.  Tháng 12-1978, ông Đặng đưa ra khẩu hiệu “Bốn hiện đại hóa” (công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, quốc pḥng).  Lúc đó, ông Đặng đă nói: “Mèo trắng hay mèo đen cũng được, miễn là bắt được chuột.”  Câu nói nầy chứng tỏ ông đă chọn chủ nghĩa thực dụng, và muốn bỏ qua chủ nghĩa cộng sản.  Giang Trạch Dân tiếp nối con đường Đặng Tiểu B́nh, mà chủ trương “tam đại biểu” cuả ông vừa được chính thức hóa trong Đại hội lần thứ 16 cuả đảng CSTH từ 8 đến 14-11-2002.(26)  Sau công nhân và nông dân, nay giới kinh doanh tư nhân, trước đây bị quy là thành phần bóc lột, cũng được kết nạp vào đảng.  Như thế có nghĩa là đảng CSTH chính thức băi bỏ tranh đấu giai cấp, và thay bằng hợp tác giai cấp trên con đường trở về với truyền thống kinh tế thị trường tự do.

 

4.-   NGƯỜI VIỆT Ở HẢI NGOẠI

 

            Biến cố ngày 30-4-1975 là nguyên nhân trực tiếp tạo thành phong trào vượt biên, đưa đến sự h́nh thành nhanh chóng những cộng đồng người Việt ở hải ngoại, một hiện tượng mới lạ cuả lịch sử dân tộc.  Ngoài số người ra đi bằng thuyền, c̣n có khá nhiều người ra đi chính thức bằng đường hàng không, do thân nhân bảo lănh qua Chương tŕnh Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program, viết tắt O. D. P.), bắt đầu từ 1979, và Chương tŕnh Tù Cải Tạo Được Phóng Thích (Released Reeducation Detainees Program, kư hiệu là HO), bắt đầu từ 1989, do chính quyền Hoa Kỳ chấp nhận cho các cựu quân nhân Quân lực VNCH bị 3 năm tù cộng sản trở lên và gia đ́nh tái định cư tại Hoa Kỳ.

Thêm vào đó, có một số người ra đi do du học hoặc xuất khẩu lao động qua Liên Xô và các nước Đông Âu, đă xin tỵ nạn khi chế độ cộng sản sụp đổ tại các nước nầy.  Số nầy lên đến khoảng trên 100.000 người, rải rác ở Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungaria, Đức... Hiện nay nhiều người trong số nầy đă xin qua các nước  phương tây định cư.

Tính chung, tổng số người Việt ở hải ngoại, kể cả lớp con cháu, hiện thời được ước lượng lên đến khoảng trên hai triệu người.  Dân số người Việt hải ngoại sẽ c̣n tăng nữa theo thời gian.  Cộng đồng người Việt ở hải ngoại nhanh chóng lớn mạnh, nhờ người Việt vốn thông minh, chăm chỉ, cần cù, chịu khó, tiết kiệm, giản dị.  Hiện nay đang có dấu hiệu cho thấy càng ngày người Việt càng thành công trong sinh hoạt chính trị tại các nước đang định cư. 

Sự lớn mạnh cuả cộng đồng người Việt ở hải ngoại, dầu muốn dầu không, tạo thành một lực lượng quan trọng, chắc chắn sẽ đưa đến những tác động qua lại trong và ngoài nước, gây ảnh hưởng lâu dài đối với sự phát triển của Việt Nam.

Về phương diện văn hóa, tại bất cứ nước nào, các cộng đồng người Việt hiện nay đều hoạt động tự phát rất tích cực nơi quê người để bảo lưu và phát huy văn hóa dân tộc.  Ở một số điạ phương, Việt ngữ trở nên một môn học chính thức trong học đường.ï  Tuy không phải là quê hương ruột thịt cuả ḿnh, nhưng có một số thị trấn mà chợ búa, quán ăn, sinh hoạt hầu như hoàn toàn bằng tiếng Việt.  Nhờ hệ thống chính trị tự do dân chủ nơi quê người, văn học, nghệ thuật, ca nhạc, nghiên cứu, tiểu thuyết, báo chí đa dạng và phát triển mạnh mẽ.  Nếu tính theo tỷ lệ dân số, th́ sự phát triển nầy c̣n phát triển mạnh mẽ hơn trong nước hiện nay.  Nếu tính theo chiều không gian, th́ báo chí, tác phẩm văn học Việt Nam ở hải ngoại bao trùm rộng răi cả thế giới.  Ngoài ra, hệ thống báo chí điện tử trên các mạng lưới thông tin quốc tế đă giúp người trong nước nắm bắt được tin tức thời sự quốc tế và liên lạc được với hải ngoại.

Về phương diện kinh tế, người Việt ở hải ngoại hằng năm hiện gởi về Việt Nam khoảng 2 tỷ Mỹ kim để giúp đỡ thân nhân.  Dầu số tiền nầy chỉ để giúp bà con, gia đ́nh, nhưng gia đ́nh là đơn vị căn bản của xă hội, nên viện trợ cho gia đ́nh c̣n có nghĩa là viện trợ cho xă hội, do đó số tiền lớn lao nầy cũng đă nâng đỡ rất nhiều nền kinh tế hiện nay trong nước.  (Chúng ta cần nên nhớ rằng, vào năm 1975, để có thể tiếp liệu cho chiến trường, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001),  đă xin chính phủ Hoa Kỳ viện trợ chỉ 300 triệu Mỹ kim, một số tiền khoảng 15% số tiền người Việt hiện nay gởi về nước hằng năm, mà Quốc hội Hoa Kỳ từ chối.)  

Về phương diện chính trị, sau khi tạm ổn định đời sống nơi vùng đất mới, đồng bào hải ngoại tiếp tục cuộc tranh đấu đang c̣n dang dở.  Lúc đầu, nhiều người tham gia phong trào vơ trang chiến đấu, t́m đường trở về phục quốc.  Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan cũng nhưng khách quan, các phong trào nầy đă thất bại.  Người Việt quay qua vận động chính trị sôi nổi khắp nơi trên thế giới.  Những vận động nầy là điểm tựa tinh thần cho những người Việt lưu vong biệt xứ giữ vững niềm tin vào tương lai, và tạo được một thế chính trị đối trọng với nhà cầm quyền cộng sản trong nước. 

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại c̣n tạo nên một địa bàn ngoại cứ bất khả xâm phạm, trở thành chỗ dựa cho những thành phần yêu nước và ly khai với đảng Cộng Sản, đồng thời là một ngoại lực hỗ trở tinh thần người Việt ở trong nước, tạo niềm tin giúp họ nuôi hy vọng để sống c̣n qua cơn thử thách nghiệt ngă hiện nay.  Chính nhờ sự lên tiếng yểm trợ từ nước ngoài, mà nhiều người trong nước đă mạnh dạn lên tiếng đ̣i hỏi tôn trọng nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do chính trị ở trong nước, hoặc phản đối việc nhà cầm quyền Hà Nội kư 2 hiệp ước nhượng đất nhượng biển cho CHNDTH.

            Nói chung, qua những lần gởi tiền về nước giúp đỡ thân nhân, những cuộc thăm viếng du lịch, những cuộc trao đổi qua điện thoại, mạng lưới thông tin quốc tế (internet), người Việt ở hải ngoại đă góp phần giúp bà con, thân nhân, và dân chúng trong nước nắm bắt được tin tức nhanh chóng, thấy rơ sự yếu kém tụt hậu, nghèo đói và nhất là t́nh trạng độc tài ở Việt Nam hiện nay.  Chắc chắn những sinh hoạt chính trị và văn hóa tự do dân chủ cuả cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại ảnh hưởng và tác động dần dần đến sinh hoạt trong nước.

 

5.-   NHỮNG YẾU TỐ MỚI

 

Một biến cố lịch sử, ví dụ cuộc cách mạng Pháp năm 1789, hay cuộc cách mạng Nga năm 1917, không phải một sớm một chiều có thể thành tựu, và cũng không thể một sớm một chiều phát huy được hết ảnh hưởng cuả nó, mà nhiều khi kéo dài cả vài chục năm.  Biến cố 30-4-1975 cũng vậy.  Biến cố nầy được Bắc Việt sửa soạn từ năm 1954, bộc phát năm 1975, và đưa đến những ảnh hưởng kéo dài cho đến ngày nay.  Trong thời gian kéo dài đó, nhiều yếu tố mới xuất hiện làm thay đổi cuộc cờ chính trị.

Vào năm 1975, nhiều người nghĩ rằng đây là kết quả chung cuộc cuả cuộc tranh chấp Quốc Cộng tại nước ta, nhưng t́nh h́nh diễn biến không đơn giản như thế.  Khi thăm viếng Việt Nam trong năm 2002, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John Mc Cain (Arizona, đảng Cộng Ḥa) đă đưa ra nhận xét rằng trong cuộc tranh chấp Quốc Cộng vừa qua, phiá bên “xấu” đă chiến thắng.  Tuy nhiên, trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử thế giới, chiến thắng cuả kẻ “xấu” luôn luôn chỉ có tính cách tạm thời.  Ngược lại điều tốt, điều thiện mới là chân lư cuả dân tộc và cuả loài người, và cuối cùng sẽ chiến thắng. 

Tất cả các chủ nghĩa, kể cả chủ nghĩa cộng sản, đều chỉ là phương tiện hay công cụ để xây dựng hạnh phúc nhân loại.  Nếu công cụ hay phương tiện đó lỗi thời, chẳng đem lại ích lợi thiết thực cho dân chúng, th́ dân chúng sẽ v́ nhu cầu thiết thân cuả chính ḿnh, vứt bỏ đi để thay bằng những phương tiện khác hữu hiệu hơn.  Đó là lư do giải thích tại sao chủ nghĩa cộng sản đă bị chính đất nước đă khai sinh là Liên Xô đào thải từ năm 1991.

Sự sụp đổ cuả Liên Xô (1991) làm cho chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản chấm dứt.  Một lần nữa, Hoa Kỳ lại xét lại chính sách đối với Việt Nam, nhất là khi cường quốc cộng sản c̣n lại là Trung Hoa đă cải cách mạnh mẽ, càng ngày càng xích gần với Tây phương.  Từ đó, Hoa Kỳ băi bỏ cấm vận năm 1994 và cộng nhận CHXHCNVN năm 1995.  Các nước khác trên thế giới theo chân Hoa Kỳ, công nhận và vào đầu tư buôn bán ở Việt Nam. 

Sự kiện nầy đưa đến hậu quả là cuộc tranh chấp quốc cộng tại Việt Nam không c̣n mang tính cách quốc tế như vào đầu thập niên 50 cuả thế kỷ qua, khi Âu Mỹ đưa ra khẩu hiệu Việt Nam là tiền đồn chống cộng.  Đối với các nước trên thế giới, trang sử chiến tranh đẵm máu ở Việt Nam đă qua.  Nay họ chỉ muốn kiếm cách làm ăn sinh lợi mà thôi.  Ngoài Hoa Kỳ, những đồng minh cũ cuả Việt Nam Cộng Ḥa như Nam Triều Tiên, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mă Lai Á, Úc Đại Lợi ... đều đă tiến vào đầu tư tại CHXHCNVN.  Từø nay, cuộc tranh chấp quốc cộng tại Việt Nam giới hạn trong phạm vi nội bộ giữa người Việt Nam với nhau, và biến thái thành cuộc tranh đấu giữa độc tài đảng trị cộng sản và chủ trương tự do dân chủ đa đảng đa nguyên. 

Một điểm cần chú ư là do quan niệm thực dụng, Hoa Kỳ và các nước trên thế giới, kể cả CHNDTH, không c̣n chú trọng đến màu sắc chính trị cuả chế độ ở Việt Nam.  Họ ủng hộ và kiếm cách lợi dụng bất cứ phe phái chính trị nào ở Việt Nam giúp ích cho quyền lợi cuả nước họ, v́ “mèo trắng hay mèo đen cũng được, miễn là bắt được chuột” (lời cuả Đặng Tiểu B́nh).  

Trong cuộc tranh đấu mới nầy, hai yếu tố quan trọng và thuận lợi cho những người chủ trương tự do dân chủ là:  Thứ nhất, trào lưu dân chủ hoá hiện nay rất phổ biến trên toàn cầu.  Các nước trên thế giới đều khuyến khích thực hiện chế độ tự do dân chủ.  Khắp nơi đều có những hội theo dơi Nhân quyền, Dân quyền, Tự do chính trị, Tự do tôn giáo ... Chính những hội nầy đă nhiều lần lên tiêng báo động, chỉ trích và phản đối nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam do việc đàn áp ở trong nước.  Thứ nh́ là phương tiện truyền thông ngày nay rất tiến bộ và tinh vi.  Không phải chỉ có chế độ cộng sản Việt Nam, mà tất cả các chế độ độc tài trên thế giới đều bưng bít, bóp méo, xuyên tạc sự thật, và nhờ đó mới đứng vững.  Ngày nay, mạng lưới viễn thông rất nhạy bén, quả điạ cầu dường như nhỏ lại.  Một sự kiện xảy ra ở đâu đó trên thế giới, chỉ cần một thời gian ngắn là được thông báo toàn cầu.  Do đó, dầu cộng sản Việt Nam đă vận dụng toàn khả năng, kể cả thiết lập bức “tường lửa” để che đậy, bưng bít, nhưng cũng chỉ làm công việc “lấy thúng úp đầu voi”, trước sau ǵ bàn dân thiên hạ cũng đều biết.  Việc nhượng đất và nhượng biển hết sức kín đáo, cuối cùng dân chúng trong và ngoài nước cũng đều được báo động.  Hoặc buổi sáng nhà cầm quyền Hà Nội bắt một nhà hoạt động chính trị trong nước, buổi chiều tin đó được loan báo rộng răi trên khắp thế giới.  Ngược lại, những hoạt động dân chủ trên thế giới, những vận động chính trị cuả các phong trào người Việt ngoài nước, những bài báo tranh đấu cho nhân quyền và dân quyền, thâm nhập vào trong nước do những người đi du lịch truyền miệng, qua điện thoại, qua các đài phát thanh và qua mạng lưới thông tin toàn cầu, mà cộng sản không tài nào chận đứng hết được.

Hiện nay, trong nước, nhiều người, kể cả những đảng viên CSVN, đă vượt qua bức tường sợ hăi bao trùm chế độ đảng trị từ bấy lâu nay, can đảm đứng lên đ̣i hỏi tự do dân chủ.  Những nhân vật nổi tiếng hiện nay như ḥa thượng Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn Văn Lư (bị kết án 15 năm tù ngày 19-10-2001), luật sư trẻ Lê Chí Quang (bị kết án 4 năm tù ngày 8-11-2002), cựu chiến binh quân đội cộng sản Nguyễn Khắc Toàn (bị kết án 12 năm tù ngày 20-12-2002), các ông Nguyễn Đan Quế, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh...  Nhóm tranh đấu nầy, không phân biệt là thường dân hay đảng viên cộng sản, đă cùng nhau hoặc trước sau, lên tiếng càng ngày càng nhiều, càng mạnh, đồng thời được sự hưởng ứng và tiếp tay cuả dân chúng ở trong cũng như ngoài nước. 

 

Về phiá đảng CSVN, họ phải cải cách mới có thể lôi kéo các nước trên thế giới đến đầu tư.   Tuy nhiên đảng CSVN chỉ cải cách kinh tế trong chừng mực không thiệt hại đến quyền lănh đạo chính trị độc đảng cuả họ.  Điều nầy thể hiện rơ nét nhất trong việc họ vẫn  duy tŕ điều 4 hiến pháp năm 1992,(27) công khai đặt quyền lợi cuả tổ chức lên trên quyền lợi cuả Tổ quốc.  

Theo nhiều nhà kinh tế học, kinh tế chỉ có thể phát triển trong những điều kiện tự do dân chủ.    Ví dụ dễ thấy nhất khi chúng ta thử so sánh t́nh h́nh kinh tế các nước trên thế giới sau khi thế chiến thứ nh́ chấm dứt năm 1945 và trước khi khối Liên Xô sụp đổ năm 1991: Tây với Đông Âu, Nhật Bản với Trung Hoa, Nam với Bắc Triều Tiên... Rơ ràng những nước dân chủ mới là những nước phồn thịnh.  Do đó, đảng CSVN hiện nay đang ở trong t́nh trạng tiến thối lưỡng nan.  Nếu cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị, th́ sẽ không thành công.  Nếu cải cách kinh tế mà đi kèm với cải cách chính trị, th́ đảng CSVN lại khó nắm độc quyền chính trị trong một cuộc bầu cử dân chủ tự do, v́ đảng nầy đă quá nhiều sai lầm nghiêm trọng, mà gần đây nhất là việc nhượng đất nhượng biển cho ngoại bang.

 

KẾT LUẬN

 

Tóm lại, trong chiều dài cuả lịch sử, biến cố 30-4-1975 đánh dấu đỉnh cao chiến thắng quân sự cuả Bắc Việt, nhưng tiếp nối sự thành công nầy là thoái trào cuả chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam, và ngược lại, tinh thần quốc gia dân tộc bùng lên một cách mạnh mẽ.  Tinh thần quốc gia dân tộc bị cộng sản lợi dụng và vận dụng sai lạc một thời gian.  Nay nhờ những phương tiện truyền thông tiến bộ, cộng sản không c̣n có thể bưng bít, che đậy, hay xuyên tạc, nên tinh thần quốc gia dân tộc chân chính thoát ra khỏi bóng tối đă bao trùm bấy lâu nay, bừng sáng trở lại vào đầu thiên niên kỷ nầy khi dân chúng ở ngoài nước và trong nước, kể cả một số đảng viên cộng sản đă hồi tỉnh, cùng nhau phản đối việc CHXHCNVN kư hai hiệp ước vào cuối năm 1999 và năm 2000, nhượng cho CHNDTH một số diện tích đất đai và biển cả.

Như thế, biến cố 30-4-1975 chưa phải là đáp số cuối cùng cuả cuộc đối đầu giữa hai ư thức hệ cộng sản và quốc gia dân tộc tại Việt Nam, mà chỉ là bước chuyển tiếp từ giai đoạn chiến tranh súng đạn do quốc tế cộng sản và quốc tế tư bản cung cấp, qua giai đoạn đấu tranh chính trị, tuy không đẵm máu và không ở dạng bùng nổ, nhưng phức tạp hơn với những thay đổi ở cả bên trong lẫn bên ngoài Việt Nam, và biến thái thành cuộc đối đầu giữa độc tài đảng trị và tự do dân chủ.  Xin đừng quên rằng chế độ độc tài đảng trị hiện nay ở trong nuớc do đảng CSVN đứng đầu, là đảng đă học được những thủ thuật cuả các chế độ độc tài cổ kim đông tây Âu Á.

Lịch sử thế giới cho thấy rằng các chế độ độc tài đảng trị như Quốc Xă Đức, Phát-xít Ư, Cộng Sản Nga dù cường bạo đến đâu, thường đạt được những thắng lợi ban đầu, nhưng rồi cuối cùng đều bị đào thải.  Quy luật lịch sử nầy có điều thừa trừ tại Việt Nam không?  Dân chúng Việt Nam sẽ trả lời.

                                                                       

TRẦN GIA PHỤNG

 

CHÚ THÍCH:

 

1.         Chế độ dân chủ có 3 h́nh thức: tổng thống chế, đại nghị chế, và quốc hội chế.  Trong tổng thống chế, tổng thống được bầu ra, vừa đứng đầu quốc gia, vừa nắm toàn quyền hành pháp, trực tiếp điều khiển chính phủ như ở Hoa Kỳ.

2.         Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài G̣n: Nxb. Tŕnh Bầy, 1973, tr. 51. (Nguyên văn các văn kiện liên quan đến hiệp định Genève năm 1954 và Paris năm 1973 đều đăng trong sách nầy).

3.         Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Houston: Nxb. Văn Hóa, 2000, tt. 72-73.

4.         William J. Duiker, Ho Chi Minh, New York: Nxb. Hyperion, 2000, tr 500.

5.         Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 202.

6.         Trên thế giới, trước Việt Nam, có nhiều nước bị chia hai: Đông và Tây Đức (1945), Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc (1949), Bắc và Nam Triều Tiên (1953).  Hai chính phủ đối nghịch các nước nầy thường đe doạ lẫn nhau, quân đội pháo kích lẫn nhau, đôi khi bắt giết những nhân viên chính quyền cuả nhau, nhưng hai bên không bao giờ đem quân tấn công nhau, không giết hại thường dân cuả hai bên, và dần dần kiếm cách thống nhất với nhau một cách ḥa b́nh.  Chỉ duy nhất ở Việt Nam, chế độ  Bắc Việt tấn công Nam Việt và giết hại thường dân Nam Việt một cách tập thể.

7.         Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi kư chính trị của một người không làm chính trị), California: Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 422, phần chú thích.

8.         Nghị quyết là một từ ngữ hàm hồ khiến người ta dễ lầm với nghị định.  Nghị định là một văn bản pháp lư do chính quyền hợp pháp ban hành, c̣n nghị quyết là quyết định do một nhóm người trong một hội nghị đưa ra theo chủ quan chính trị và quyền lợi của họ, không có căn bản pháp lư nào cả.  Đặc biệt, đảng bộ cộng sản cấp nào cũng có thể ra nghị quyết được hết.  Từ trung ương xuống tới tổ dân phố, đảng uỷ luôn luôn ra nghị quyết để chỉ đạo công việc.  Đôi khi nghị quyết các cấp chồng chéo nhau hoặc ngược hẳn nhau.

9.         Trong thời gian nầy, đă xảy ra 3 cuộc xáo trộn lớn nhưng đều bị dập tắt và bưng bít.  Thứ nhất: Trong Cuộc Cải cách ruộng đất giai đoạn 5 từ 1955, tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, tỉnh sinh quán của Hồ Chí Minh, dân chúng đă nổi lên khá mạnh mẽ vào đầu tháng 11-1956.  Hồ Chí Minh gởi sư đoàn 325 đến đàn áp những nông dân không súng ống, chỉ có gậy gộc, cuốc xẻng và tấm ḷng uất ức v́ bất công tàn bạo của chế độ, trong thời gian từ ngày 10 đến 20-11-1956, giết khoảng 1.000 nhân mạng, bắt bớ và lưu đày hàng ngàn người khác.  Thứ nh́ là vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” trong năm 1956, bị dẹp yên ngay, và thứ ba là “Vụ án tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm t́nh báo cho nước ngoài”(tên do nhà cầm quyền Hà Nội đặt), cũng bị cộng sản kín đáo bắt giam lâu ngày không xét xử toàn bộ những người bị nghi ngờ.  Vụ án nầy chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ 1963 đến 1966; giai đoạn 2 từ 1967 trở về sau.

10.        Khi vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” xảy ra năm 1956 ở Bắc Việt, cộng sản che đậy khéo đến nổi ở trong Nam, dân chúng lầm tưởng rằng vụ án nầy không có thật và những tin tức về vụ án phát xuất từ việc tuyên truyền cuả chính phủ.  Sau đây là lời cuả một tác giả đă từng chứng kiến vụ án nầy ở Hà Nội: "Chế độ miền Nam, tất nhiên là làm rầm rộ lên nhân vụ án nầy để tuyên truyền mặt trái của chế độ miền Bắc.  Nhưng sau nầy, khi hỏi chuyện anh em miền Nam th́ được biết là họ không tin, họ tưởng là sự việc bị bịa đặt ra, chứ làm ǵ đảng có thể đối xử với trí thức miền Bắc tàn tệ đến mức như thế."(Nguyễn Minh Cần, Công lư đ̣i hỏi, Nxb. Văn Nghệ, California, tt.76-77).

11.        Về phía Liên Xô, vũ khí