Ba thân yêu,
Tính đến
hôm nay thắm thoát Ba đă ra đi được hơn một tháng; hơn một tháng trời trôi qua
với tràn đầy nhớ thương của má và tất cả anh chị em chúng con cùng các cháu nội
ngoại của ba.
Tối nay, lại thao thức không ngủ được, vào bàn thờ con thắp nén hương trầm dâng
lên Ba. Nh́n di ảnh Ba, ánh mắt thật oai nghi trung trực, khuôn mặt đầy bao dung
nhu hậu, biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui lại trở về trong kư ức con. Một trong
những kỷ niệm mà con không bao giờ quên được là ngày con gặp lại Ba sau những
tháng đợi năm chờ với những ưu sầu lo lắng mà má và chúng con chỉ c̣n biết bấu
víu vào nguyện cầu Trời Phật...
Với ng̣i bút vụng về, con chỉ muốn ghi chép lại đây ngày con đi thăm nuôi Ba,
chuyến đi từ Sài G̣n ra miền rừng núi Bắc Việt để được gặp ba tại trại cải tạo
Thanh Hoá vào năm 1979. Chuyến thăm nuôi đó, con c̣n nhớ rơ là với nét mặt can
đảm Ba đă giấu đi hai hàng nước mắt để nhường lại cho những nét đăm chiêu nhưng
thật b́nh tĩnh, và những lời Ba nói cho con nghe, ... tất cả là một cuốn phim dĩ
văng được quay lại rất rơ nét.
Trên chuyến xe lửa Sài G̣n - Thanh Hóa, con ngồi giữ chặt hai chiếc giỏ mây bên
trong chứa đầy ấp t́nh thương và quà đem đi thăm Ba. Tối hôm trước, Má đă cẩn
thận ngồi gói ghém thức ăn và các vật dụng cần thiết; trong đó có cả chai dầu
khuynh diệp cho ba. Với ánh mắt xa xăm, Má đă kể cho con nghe câu chuyện mà lần
đầu tiên trong đời con được nghe đến.
Một buổi sáng năm xưa, khi Má chuyển bụng sinh con, Ba đă đưa Má vào nhà hộ sinh
Cô An ở Đà Nẵng; xong rồi Ba trở về nhà để lấy thêm vài thứ cần dùng cho Má. Khi
Ba đang loay hoay xếp các thứ vào giỏ th́ vú Xà chạy về báo tin rằng Má đă sinh
CON GÁI, mẹ tṛn con vuông. Ba mừng quá! Thay v́ lấy chai Eau de Cologne rắc vào
đầu, ba đă lấy nhầm chai dầu khuynh diệp rắc khắp người. Xách giỏ vào nhà hộ
sinh thăm hai má con, ba sung sướng bế con nựng nịu. Má bảo mùi dầu khuynh diệp
trên người Ba đă bám vào người con măi đến mấy ngày sau mới hết! ... Câu chuyện
dễ thương chứ ba nhỉ! Nhưng cũng dễ làm con khóc v́ ngày trước ba đă rắc dầu
khuynh diệp vào người chạy đi thăm con, cái ngày con mới cất tiếng khóc chào đời,
th́ nay con lại là người đem chai dầu khuynh diệp đi tiếp tế cho Ba, để pḥng
trong chốn lao tù Ba có mà dùng những khi trái gió trở trời ...
Chiếc xe lửa cứ ́ ạch. Trong gió, mùi dầu khuynh diệp như cũng đang phảng phất
đâu đây với h́nh ảnh Ba bế nựng con năm nào ...
Con c̣n nhớ rơ những ngày Má và con trông chờ tin tức Ba. Ngày rồi lại ngày, Má
và con như đứng đống lửa, như ngồi đống than. Không đợi chờ được nữa, hai mẹ con
đă liều đi kiếm Ba ở khắp các trại tù. Mỗi buổi sáng, con và Má ra chợ, mua nải
chuối và đ̣n bánh tét cho vào chiếc bao ni lông nhỏ; xong con lấy giấy ghi tên
Ba cho vào đó. Từ trại này qua trại khác, từ khám Chí Hoà, trại giam tù chính
trị Phan Đăng Lưu ở Gia Định, Bùi Gia Mập, ... đến trại tù Suối Máu tại Biên Hoà,
Kà Tum gần núi Bà Đen, trại giam B́nh Dương, ... Cứ đến mỗi trại, hai mẹ con lại
năn nỉ tên công an gác cổng đem chuối và bánh vào t́m đưa cho Ba. Má và con đợi
truớc cổng trại nhiều khi đến sẫm tối tên cán bộ mới trở ra, thẩy chiếc bao lại
cho má và lạnh lùng bảo: "Ở đây không có tên này!"
Sang ngày hôm sau, hai mẹ con lại dắt nhau đến trại giam khác, đợi cả ngày trời.
Trưa đến, đói bụng hai mẹ con mở cơm nắm hoặc bánh ḿ khô ra ăn. Con có đem theo
chiếc chiếu cói nhỏ, khi trưa đến má nhọc quá, con t́m một bóng cây bên kia
đường đối diện với trại tù và trăi chiếc chiếu ra cho má nghĩ. Tuổi già sức yếu,
Má co quắp nằm thiếp đi dưới ánh nắng gay gắt lúc nào không hay. Nh́n khuôn mặt
xanh xao và thân thể gầy g̣ của má, ḷng con đớn đau, và lại càng uất nghẹn khi
nghĩ đến Ba, không biết hiện có c̣n sống hay thân xác đă bị vùi dập tại một xó
xỉnh nào đó? H́nh phạt dành cho người mẹ già của chúng con thật nặng nề và tàn
nhẫn quá! Nỗi trông chờ sầu thảm đă giết lần giết ṃn Má. Ai đă ác độc và nham
hiểm dùng sự chia cách đó để làm ngón đ̣n đánh vào thân xác tiều tụy của các bà
mẹ và các bà vợ Việt Nam sau mùa chiến chinh?
"Giết nhau chẳng phải dao Cầu,
Giết nhau bằng cái ưu sầu gớm chưa?"
Có lần, Má và con đợi từ sáng đến tối, có tên cán bộ từ xa tiến lại gần, đi hai
tay không. Con mừng quá, ngỡ rằng quà đă được giao cho Ba rồi. Gặp Má và con,
hắn chỉ lạnh lùng bảo: "Về đi, không có ở đây!". Để niú kéo nguồn hy vọng, con
hỏi theo vớt vát: "C̣n bánh và chuối ... " Hắn đă cắt ngang lời con trả lời cộc
lốc: "Ăn rồi!" Hai mẹ con lại thất vọng, dắt díu nhau ra bến xe đ̣, đón xe về
nhà để chuẩn bị cho cuộc t́m thăm ngày hôm sau ...
Một buổi sáng, v́ má quá mệt nên con muốn má nghỉ ở nhà một ngày. Con đi một
ḿnh đến trại giam B́nh Dương. Đang lang thang trước cổng trại th́ t́nh cờ gặp
anh Thọ, cháu ruột của Ba, đi ngang qua. Lúc ấy anh Thọ làm nghề sửa khóa và bơm
mực vào viết Bic cũ. Anh Thọ chạy đến, con cho biết là ba đă bị bắt và bị giam ở
đâu th́ không được biết nên đang đi lùng kiếm Ba. Anh Thọ ̣a lên khóc, nghĩ đến
người chú ruột đă thương ḿnh như con. Trưa hôm đó, anh Thọ dẫn con về nhà; nơi
anh ở cách trại tù B́nh Dương không bao xa. Anh Thọ quậy nước chanh cho con uống.
Chị Thọ thổi thêm cơm mời con ăn. Buổi ăn trưa ấy, ôi chao ơi thật là tràn đầy
t́nh thương. Cái ngày hôm ấy, tuy bị công an ghẻ lạnh trước trại giam, nhưng với
cái t́nh nghĩa ruột thịt trong hoạn nạn mà anh chị Thọ bù đắp, con cảm thấy được
an ủi rất nhiều.
Người hàng xóm lắm lúc ái ngại đă nói khéo với Má rằng: "Chắc bà vào Chùa xin lễ
Cầu An cho ông nhà đi ..." Má vờ như không nghe thấy, đi quay vào nhà trong; Má
không dám đối diện với một sự không biết là có thật hay không.
Tuy thất vọng nhưng Má và con không tuyệt vọng ba ạ. Ṛng ră sau những năm tháng
biền biệt, má và con nhận được lá thơ đầu tiên Ba gởi về từ chốn lao tù. Cầm thơ
ba, con không biết thật sự là ḿnh mơ hay tỉnh. Hai mẹ con đọc đi đọc lại bao
nhiêu lần, đọc đến thuộc ḷng. Nh́n tuồng chữ viết nghiêng nghiêng, đều đặn và
rắn rỏi của Ba con mừng lắm v́ thấy nó chứa đựng tất cả một sự b́nh tĩnh của tâm
hồn Ba. Má đă dán thơ ba lên tường, để hằng ngày hănh diện nh́n thấy sức sống
của ba ...
Sau ba ngày đêm lặng lẽ trầm tư, tiếng hú inh ỏi của c̣i xe lửa khi đến nhà ga
đă đánh thức con về thực tại. Cảnh và vật trên sân ga Thanh Hóa trông thật điêu
tàn. Đang bỡ ngỡ th́ nghe tiếng gọi tên con, với giọng run run: "Cháu Nguyệt ơi
!" Con quay lại th́ thấy Bác Phiên, Bác đă được con báo tin là sẽ đi thăm Ba nên
Bác đă ra nhà ga đón con để đi cùng.
Đêm hôm ấy, con và Bác Phiên tạm trú tại nhà Ga Thanh Hoá để sáng hôm sau tiếp
tục cuộc hành tŕnh. Con trần trọc, chỉ mong trời mau sáng để được đi gặp Ba.
Mưa khuya rả rích, tiếng gió hú trong đêm, mang đến cho con cái lạnh buốt ruột
và càng cào xé cho nỗi buồn thêm thắm thía. Bác Phiên cũng thao thức. Hai Bác
cháu tâm sự rất nhiều. Bác kể lại những ngày xa xưa khi Bác làm chủ sự pḥng bưu
điện bên Lào, Bác thường xuyên nhận được thơ của Ba viết từ trường học tại Hà
Nội gởi đến. Bác Phiên, Bác Toàn và Ba, mồ côi cả cha lẫn mẹ từ tấm bé nên rất
thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Ngày cưới của Ba Má, Bác về dự và đem theo một bức
tranh sơn mài trên có h́nh đôi chim non và lời chúc: "Sắc cầm ḥa hợp" để làm
quà cưới cho Ba Má. Bác cũng đă tặng riêng Ba một cây bút máy trên có khắc chữ
"QT". Bác Phiên đă kể cho con rằng vào năm 1954, trước khi tấm màn sắt kéo xập
xuống để chia đôi đất nước Việt Nam tại vĩ tuyến thứ 17; từ Đà Nẵng Ba đă vội
vàng ra tận miền Bắc kiếm Bác để đón Bác vào Nam. Thật là không may, lúc ấy Bác
bị kẹt bên Lào không về kịp điểm hẹn là cầu Thê Húc, nơi mà Ba đă đợi Bác cho
đến ngày cuối cùng của hiệp định Genève. Bác đă ân hận rất nhiều khi bị kẹt ở
lại miền Bắc, để rồi Bác đă làm nhân chứng sống cho thời cuộc. Bác nào ngờ có
một cái chế độ khốn nạn và bất nhẫn như thế!
Từ ga Thanh Hoá đến trại tù giam Ba th́ chỉ có một phương tiện duy nhất là xe
đạp, nếu không muốn cuốc bộ. Bác Phiên cho biết ô-tô chỉ dành riêng cho cán bộ
nhà nước. Bác Phiên đă thuê được cho con chiếc xe đạp chiều hôm qua. Sáng sớm,
hai bác cháu lên đường, cột chặt hai giỏ quà nặng trĩu cho Ba sau xe đạp. Đường
đi gập ghềnh sỏi đá, đâu đâu cũng là rừng, là "h́nh khe thế núi gần xa, dứt thôi
lại nối thấp đà lại cao". Dọc đường là những đồi lim, là những dẫy soan mà những
thân lim th́ lạnh lùng đứng sững, c̣n những cánh hoa soan trắng th́ tơi tả rơi.
Con thầm nghĩ, nếu đây là một cuộc du ngoạn của Ba th́ chắc là hồn thơ của Ba sẽ
phong phú lắm! Nhưng than ôi, Ba đă trở về đất Bắc trong hoàn cảnh éo le và gian
khổ quá. Những thân cây lim trước mắt con lúc bấy giờ chẳng khác ǵ những tháp
canh chót vót của trại giam mà kẻ thù dựng lên để vây bủa và kiềm tỏa Ba cùng
những người tù cải tạo khác. Những cánh hoa tơi tả kia, trong ḷng con, là những
giọt nước mắt khổ đau của đồng bào đang tuôn trào trước những hành hạ đủ điều
của chế độ mới.
Khắp nơi là những con đèo, con dốc, khi th́ vồng lên cao, khi nhào xuống thấp.
Xe đạp của hai bác cháu bị xóc mạnh, nhồi lên nhồi xuống, đường đi thật gian nan
vất vả. Rồi trưa đến, nắng gay gắt, không một cơn gío thoảng. Thiên nhiên cứ như
là một bức tranh thủy mạc đứng lặng chết. Mồ hôi vă đầy, nhưng con và Bác Phiên
cứ lặng lẽ cố gắng đạp xe đi.
Đến một nhánh sông nhỏ, có chiếc cầu treo băng ngang. Con và Bác Phiên xuống xe,
thận trọng từng bước dắt xe đạp qua cầu. Khi sang được một nữa cầu th́ vài song
tre của chiếc cầu ẻo lă bị găy, kêu lên răng rắc! Nh́n nước chảy xiết dưới kia,
con lo sợ cho hai giỏ quà của Ba, nếu chẳng may bị rớt xuống th́ đau ḷng quá!
Tiến thoái lưỡng nan, con và Bác Phiên đă để hai xe đạp nằm xuống, cẩn thận gỡ
giây cột của hai chiếc giỏ mây ra. Con và Bác Phiên lấy giây buộc chặt giỏ vào
lưng, mỗi người cơng một giỏ quà. Một tay với ra sau giữ lấy giỏ, c̣n tay kia
bám lấy giây treo, và thấp người xuống từ từ, rồi con và Bác Phiên lết ḅ đi
chầm chậm như hai con sên. Đem được hai giỏ quà trọn vẹn sang cầu bên kia, hai
bác cháu nh́n nhau thở phào nhẹ nhơm. Sau đó, Bác Phiên và con lại phải trở lại
giữa chiếc cầu để cũng lại rất cẩn thận lết đẩy xe đạp qua cầu. Con mừng thầm đă
thuyết phục được Má ở lại nhà. Biết trước đường đi đầy khổ cực, mặc dầu Má cứ
khăng khăng đ̣i ra tận trại tù miền Bắc để thăm Ba, con đă nhất định không muốn
Má đi nhất là bấy giờ cái bịnh đau thấp khớp xương đang hành hạ Má. Quay đầu lại
nh́n chiếc cầu treo rung rinh, con càng thấm thía hơn cái ư nghĩa của câu "Đoạn
trường ai có qua cầu mới hay"... Con lại càng thấy thương Ba Má hơn v́ với biết
bao khó khăn, nhọc nhằn và hy sinh, đă nuôi anh chị em chúng con lớn lên qua
biết bao nhiêu năm Việt Nam khói lửa ...
Để lấy sức, hai bác cháu giở cơm nắm muối vừng ra ăn và uống vội ngụm nước vối
xong th́ lại tiếp tục đi cho kịp giờ thăm nuôi. Dọc đường, đang đạp xe, con gặp
một cụ già gánh miá ngang qua. Những thanh miá mới đốn trông lá c̣n xanh tươi
quá. Con biết xưa nay ba vẫn thích miá, có lần Ba kể rằng hồi c̣n đi học ở Hà
Nội, lúc đi Lào thăm Bác Phiên Ba đă được ăn miá Thanh Hoá, rất ngọt, ngon và
nhiều nước. Thư gởi về nhà Ba nói răng Ba c̣n tốt nên khi thăm nuôi khỏi lo
thuốc đau răng. Con chua chát nghĩ rằng sau bao nhiêu năm trong cái trại tù khổ
sai, tuy tuổi đă gần bảy mươi, nhưng răng Ba đă nhiều lần cắn chặt để chịu đựng
sự đọa đày nên có lẽ v́ thế mà răng của Ba nay vẫn c̣n chắc để nhai những lóng
miá mà Ba vẫn thích năm xưa. Tuy xe đă nặng hành lư, con vẫn dừng lại, mua cho
được miá của cụ già. Con lựa những thanh miá ngon nhất, chặt thành từng khúc nhỏ,
khệ nệ ôm cột vào xe.
Trên đường vào trại giam, gần một chân núi, con thấy có tên công an cầm súng
đứng canh hai người tù đang h́ hục đào một cái lỗ sâu h́nh chữ nhật. Gần bên là
một xác người h́nh như được bó vào mảnh vải bố và đặt nằm trên một chiếc ki bằng
tre. Hai người này đang sửa soạn nơi an nghỉ cuối cùng cho một người bạn tù cùng
trại giam đă không may lià đời hay là đă may mắn xa măi cái chốn kiếp đọa đày
... Lác đác gần đấy là những nấm mộ có đất phủ lên cao trông hăy c̣n mới, trên
có cắm chiếc cọc. Chắc tên của người quá cố đă được anh em bạn tù khắc vội vào
chiếc cọc đó. Cảnh thật là tang thương và ḷng thật là tê tái ... Con nghe tiếng
Bác Phiên, đạp xe phiá trước ngoái đầu lại, với giọng thật là nghẹn ngào và an
ủi "Thôi cháu Nguyệt ạ, đừng nh́n nữa ..."
Khi đến trại th́ trời đă quá ngọ, tim con đập mạnh, mắt con đảo quanh nh́n tứ
phía. Lảng vảng gần xa là những tên cán bộ ... Trời ơi, con thấy ba đang lao
động đằng kia. Mắt đẫm lệ, con muốn gào kêu, nhưng con cố nén v́ sợ phạm nội qui
trại sẽ không được thăm gặp Ba. Thân h́nh tiều tụy, áo quần tả tơi, tóc bạc phơ,
Ba đang cùng với hai người tù khác kéo chiếc xe bốn bánh cọc cạch mà trên đó là
những tảng đá thật lớn. Con đă thầm hỏi, giữa trưa nắng gắt, chân đạp đất, đầu
đội trời, Ba và những người bạn tù chuyển đá đi đâu và để làm ǵ? Nhưng liền sau
đó con liếc mắt thấy một đống đá rất lớn trước cổng trại. Th́ ra kẻ thù đă dùng
nước sông công tù để xây dựng trại tù, để chúng sẵn sàng giam cầm tất cả những
ai chống lại cái chế độ bạo tàn của chúng. Sau nhiều năm sống dưới chế độ mới
này, chính mắt con đă thấy, tai con đă nghe rất nhiều chuyện thâm độc phi nhân
mà con không thể tưởng tượng rằng có thể có được.
Bác Phiên giữ xe và quà trước cổng trại, con b́nh tĩnh vào trong tŕnh giấy.
Thấy mặt con đọng đầy nước mắt, tên cán bộ nhe răng cười nham nhở: "Kià chị,
được đi thăm người nhà th́ chị phải vui chứ sao lại khóc thế kia?" Con lấy tay
áo chùi, gạt nước mắt và chỉ b́nh thản trả lời: "Cơn gió thổi nhiều bụi quá!"
Tên cán bộ hách dịch bảo con là đă trễ giờ thăm nuôi rồi nên con và Bác Phiên
phải đợi đến sáng ngày hôm sau mới được gặp Ba.
Tối hôm ấy, con và Bác Phiên đă ngồi bó gối trong nhà đợi. Nhà đợi được chống
lên bằng bốn đà lim, mái th́ lợp bằng nứa với những tấm vách đánh bằng cỏ tranh,
nền đất sét đắp bằng phẳng, có bàn và ghế dài làm bằng cây rừng trông rất ngăn
nắp. Chắc chắn cái nhà này do chính bàn tay các người tù cải tạo dựng lên. Co ro
người trong chiếc áo tơi và trong đêm con đă chập chờn ngủ. Những cơn gió khuya
giữa rừng núi thổi lạnh thấu tim gan. Văng vẳng chung quanh con, trong vách là
tiếng dế than, trên ngọn cây là tiếng cú kêu đêm và chốc lát th́ lũ chim b́m bịp
trên sông Mă gọi nhau nghe thật năo nùng ...
Sáng hôm sau, có tên cán bộ đi kèm, giải Ba ra nhà thăm nuôi gặp con và Bác
Phiên. Sau mấy chục năm xa cách, nay hai anh em ruột được gặp lại nhau, tại đất
Bắc, trong một hoàn cảnh thật oái ăm! T́nh huynh đệ ôm ấp bấy lâu nay, Bác Phiên
ôm chầm lấy Ba, ḷng nghẹn ngào quặn thắt. Lúc gặp con, ba gh́ con thật chặt,
nhưng Ba không khóc. Nét mặt của Ba đăm chiêu và thật b́nh tĩnh. Con đoán là Ba
đă cố gắng ngước mắt lên cao để ngăn lại tất cả xúc động.
Ba dồn dập hỏi tin má và cả nhà. Có tên quản giáo đứng gần ngay đấy, nên con
không trả lời sự thật được. Con đă kiếm cách nói quanh co cho Ba hiểu là có một
số anh em từ ngục tù về, đă vượt biên đến được bến bờ tự do. Mắt Ba sáng lên,
tràn đầy mừng rỡ. Nhưng khi nghe đến Má đang trông chờ Ba từng giờ phút, ba nh́n
xa xôi buồn vời vợi ..
Giây phút được gặp Ba thật là ngắn ngủi. Lúc tạm biệt, con trao Ba hai giỏ quà
mà mắt con ứa lệ. Con c̣n nhớ măi ánh mắt long thần can đảm của Ba lúc bấy giờ.
"Cầm tay con xiết nhẹ, Ba khẽ nói,
Can đảm lên con, Ba hứa sẽ về."
Viết đến đây, con xúc động quá Ba ạ. Nước mắt con đă làm hoen ố nhiều trang giấy.
Ghi lại trang nhật kư này mà con có cảm tưởng như đang sống lại ngày đi thăm
nuôi Ba năm nào. Chỉ khác một điều là bây giờ Ba không c̣n nữa, và nhất là không
c̣n bị hành hạ giam cầm trong cái trại tù dă man kia. Trong cuộc hành tŕnh bằng
giấy bút ngày hôm nay, con được quyền khóc, được quyền tự do nói lên những điều
mà con muốn nói chứ không cần phải e ngại và dè dặt như ở giữa cái địa ngục đỏ
năm xưa ...
Có tiếng Má lục đục ngoài bếp, chắc Má đang sửa soạn nấu cơm và luộc trứng để
cúng cho Ba ...
Con gái của ba,
Minh Nguyệt