Nhân ngày 30 Tháng 4


Ngày 30/4 nhắc nhủ thế hệ trẻ 

phải t́m lối thoát khỏi hậu quả cuả

hai sai lầm  tai hại vĩ đại

của ông Hồ và Đảng CSVN  

 

Tôn Thất Thiện   

    

Ngày 30 tháng 4 là ngày mà mọi người Việt, dù ở chân trời nào, dù thuộc về xu hướng nào, cũng suy ngẫm về những ǵ đă xảy ra cho ḿnh và cho đất nuớc dân tộc Việt Nam từ ngày đó năm 1975, và tự hỏi "tại sao?": tại sao lại có ngày có "ngày đó"? Suy rộng ra "ngày đó" là hậu quả của nhiều nguyên do, trong đó có những nguyên do chính, có những nguyên do phụ, thuộc lănh vực quốc nội và lănh vực quốc tế, phải mất rất nhiều th́ giờ mới phân tích tường tận được.ột số nguyên do nói trên liên quan đến những sai lầm của những người thuộc "phe quốc gia", hoặc của những người Miền Nam. Nhưng xét thật kỹ và một cách vô tư, những sai lầm này chung quy chỉ có tính cách phụ. Nó không phải là những sai lầm có tính cách quyết định, mà hậu quả càng ngày càng hiện rơ ra, trong nhăn quan của những người "bên này" - "phía quốc gia" - cũng như của những người phía "bên kia - phía cộng sản". 

 

Những sai lầm có tính cách quyết định gây tai hại lớn cho đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là những sai lầm từ phía cộng sản, do ông Hồ và lănh đạo Đảng Cộng Sản phạm phải. Những sai lầm đó là những sai lầm vĩ đại, về chiến lược, và v́ vậy tác hại của nó cũng vĩ đại.quả quyết được điều trên đây nhờ trong khoảng 10 năm qua có nhiều người thuộc "phía cộng sản" đă tách ra khỏi hàng ngũ cộng sản và nói lên những điều mà họ đă mục kích và chính bản thân họ đă là nạn nhân trong những năm họ hăng hái theo cộng sản, tranh đấu duới là cờ cộng sản, tưởng rằng cho đất nước, dân tộc, và chính ngay bản thân họ, nhưng rốt cục là CHO CỘNG SẢN, hay đúng hơn, cho một thiểu số đảng viên cán bộ mà một cựu đảng viên cộng sản tỵ nạn ở Âu châu gọi là "cộng sản cơ chế". (Cách gọi này nhằm phân biệt đám này với "cộng sản lư tưởng": cộng sản "cơ chế" là cộng sản xôi thịt, xu thời, điêu xảo, tiếm quyền tiếm danh cộng sản để trục lợi, c̣n cộng sản "lư tưởng" là cộng sản chính cống, nguyên thủy, lương thiện, ngay thẳng và vô tư). 

 

Trong số những sai lầm tai hại vĩ đại của ông Hồ và nhóm cận thần trong ĐCSVN của ông có hai sai lầm chính, mà hậu quả đă kéo dài đến ngày nay, và c̣n sẽ kéo dài nhiều năm, hay nhiều chục năm, nữa. Tai hại đây là nh́n từ góc độ của cả quá khứ lẫn hiện tại, và nhứt là tương lai.sai lầm vĩ đại có tính cách chiến lược và mang hậu quả tai hại dài hạn cho nước Việt Nam và dân Việt Nam đó là: 1/ đi theo con đường xă hội chủ nghĩa lêninít-bônsêvích một cách mù quáng, và 2/ đẩy nước Việt Nam và dân Việt Nam vào một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ. 

 

Chủ nghĩa xă hội = chiến tranh, nghèo khổ, tụt hậu 

 

Trong tiểu sử ông Hồ có một điều hay được nhắc đến, ngay cả hai tháng trước khi chết, tháng 7 năm 1969, trong một cuộc phỏng vấn của kư giả cộng sản Pháp, Charles Fourniau, là năm 1920 ông (Hồ) được biết đến Lê-nin và chủ nghĩa lê-ni-nít, và từ đó ông hoàn toàn tin tưởng vào lănh tụ cộng sản và chủ nghĩa cộng sản. Ông ta nói rằng nếu trước đó ông chỉ là người "ái quốc" (có tinh thần quốc gia) th́ từ đó ông là người cộng sản. Từ 1925 trở đi, lúc ông bắt đầu tổ chức tổ cộng sản đầu tiên ở Cửu Long/Hồng Kông, cho đến khi nhắm mắt, năm 1969, ông không ngớt căn dặn đàn em phải luôn luôn bám lấy chủ nghĩa Mác-Lê và Đệ Tam Quốc tế (nghĩa là triệt để theo Liên Xô và phục vụ cách mạng quốc tế). Tập bài giảng đầu tiên của ông, Đường Cách Mệnh (1927) và Di Chúc của ông (1969) rất rơ ràng, dứt khoát về điểm này.thuyết lêninít-bôsêvích, người cộng sản không được có tinh thần quốc gia mà phải luôn luôn để mục tiêu cộng sản, nghĩa là cách mạng thế giới, lên trên hết. Để làm gương cho đồ đệ của ông, chỉ 5 tháng sau khi quân cộng sản của Mao Trạch Đông đánh bại quân Quốc Dân Đảng và đến biên giới Hoa-Việt, mang lại niềm tin cộng sản Việt Nam cũng sẽ thắng trong cuộc chiến với Pháp, ông Hồ triệu tập đại hội ĐCSVN (tháng 3, 1950) để tuyên bố lớn rằng ĐCSVN là "con út" của "đại gia đ́nh" xă hội chủ nghĩa, "một bộ phận khăng khít" của khối xă hội chủ nghĩa, và nước Việt Nam xă hội chủ nghĩa là "tiền đồn của khối xă hội chủ nghĩa". 

 

Ông căn dặn đàn em phải luôn luôn chứng tỏ sự trung thành tuyệt đối của ḿnh với cộng sản quốc tế bằng cách làm tṛn "nhiệm vụ quốc tế", nghĩa là phải tận lực thực hiện những mục tiêu của cách mạng thế giới - dù rằng những mục tiêu này quá khả năng của một dân tộc nhỏ bé như dân tộc Việt Nam, như đánh đổ tư bản quốc tế. 

Những điều trên đây đă được đàn em của ông Hồ ghi rất kỹ, và thi hành lại c̣n kỹ hơn nữa, trong lúc ông c̣n sống, và sau khi ông khuất núi cho đến nay. Khẩu hiệu vẫn là: "kiên định theo con đường xă hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh". Và v́ vậy, đại đa số dân Việt Nam mới ở trong t́nh trạng cơ cực, tuyệt vọng, và nước Việt Nam mới ở t́nh trạng tụt hậu, ngày nay. 

 

Chủ thuyết lêninít là một thuyết được đặt ra để làm cách mạng, nghĩa là đập phá, hủy hoại, lật đổ những ǵ hiện có. Về phương diện này, nó là một thuyết rất hay, rất hiệu nghiệm. Nhưng, đồng thời, nó là một chủ thuyết cổ vơ chiến tranh trên b́nh diện quốc nội lẫn quốc tế. V́ là chiến tranh nhằm tiêu diệt giai cấp tư bản nên nó là chiến tranh quốc tế, v́ tư bản là một hiện tượng kinh tế bao trùm thế giới chớ không riêng ǵ một nước. Danh xưng và mục tiêu của tổ chức, "Quốc tế Cộng Sản" (Kommunist International), "Cách Mạng Quốc Tế", nói rơ lên điều này.́ là một "thành phần khăng khít" của khối cộng sản quốc tế nên khi Liên Xô, quốc gia lănh đạo khối cộng sản, xung đột với Hoa Kỳ, lănh đạo của khối tư bản, Việt Nam cũng bị kéo vào cuộc chiến này, và v́ tự nhận là "tiền đồn" của khối xă hội chủ nghĩa nên trở thành chiến trường của hai phe xung đột và bị hoạ chiến tranh triền miên. Chủ thuyết Mác-Lê, con đường "xă hội chủ nghĩa", "cách mạng thế giới", "nhiệm vụ quốc tế" đă biến dân Việt Nam, nước Việt Nam thành bia đỡ đạn cho khối cộng sản. Trong những tiếp xúc các với lănh đạo ĐCS Liên Xô Gorbachêv trước khi Liên Xô sụp đổ, Lê Duẩn và Nguyễn Văn Linh đă nhấn mạnh công lao lớn của ĐCSVN trong việc làm cán cân lực lượng thế giới nghiêng về phe xă hội chủ nghĩa. 

 

Nhưng điều mà họ không đề cập đến là dân Việt Nam , nước Việt Nam đă phải trả một giá quá đắt cho sự thay đổi đó. Điều này nay đă được những người trong hàng ngũ cộng sản, kể cả những người đă hy sinh rất lớn và nắm giữ những chức vụ quan trọng trong Đảng, như các ông Nguyễn Hộ, Nguyễn Trấn, Trần Độ, nêu lên trong những thư gởi cho lănh đạo Đảng trong những năm gần đây. Họ nêu rơ rằng v́ lănh đạo Đảng đă đi theo con đường xă hội chủ nghĩa một cách mù quáng, nhân dân Việt Nam đă phải trả một giá quá đắt cho độc lập đă dành dược. Quá đắt v́ chiến tranh là một cuộc chiến quốc tế, giữa hai lực lượng quốc tế, và do đó, là một cuộc chiến quy mô, và kéo dài đăng đẳng. Như Tướng Vơ Nguyên Giáp đă thường nhắc đi nhắc lại một cách rất thích thú và kiêu hănh, cuộc chiến đó là một cuộc chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ". Và đây là sự sai lầm vĩ đại thứ hai của ông Hồ và ĐCSVN. 

Trước khi bàn về vấn đề quan trọng này, tưởng nên đề cập đến hai khía cạnh đáng để ư khác của sự lựa chọn con đường xă hội chủ nghĩa của ông Hồ và ĐCSVN: đó là chủ trương độc quyền độc tôn về chính trị, và kế hoạch hoá và tập thể hoá kinh tế của chế độ xă hội chủ nghĩa.

 

Đảng chiếm hết, giành hết 

 

Hậu quả tập hợp của hai chủ trương trên là làm cho dân chúng phải sống trong cơ cực. Đây là một sự thực mà không ai chối căi được, nhứt là từ ngày Liên Xô và các quốc gia cộng sản Đông Âu bị giải thể, và chính những người cựu cộng sản đă nắm chức quyền lớn trong các quốc gia đó đă nói lên sự thực đó. Ai đă có viếng thăm Nga và được tự do quan sát trong thời gian sau khi chế độ cộng sản sụp đổ cũng mục kích cảnh nghèo khổ của dân Nga. Năm 1993, tôi có dịp viếng thăm Nga, và điều nổi bật nhất là t́nh cảnh nghèo khổ của người thường dân Nga mà tôi gặp trên đường phố, ở các chợ trời, hay dưới các trạm tàu điện metro, trong khi các sách về địa lư cho ta biết rằng nước Nga là một nước tài nguyên rất dồi dào. Tại sao? Phải, tại sao lại có t́nh trạng như vậy? 

Có t́nh trạng như vậy v́ trong chế độ xă hội chủ nghĩa lêninit-bônsêvích Đảng tự đặt ḿnh lên trên hết, và coi việc bảo vệ uy thế, quyền lợi, địa vị độc tôn độc quyền của Đảng là mối ưu tư tối thượng của Đảng. Do đó, tài nguyên, nhân lực của nước bị Đảng chiếm hết và dành ưu tiên cho việc cung cấp công cụ, phương tiện cần thiết cho sự bảo vệ, củng cố, phát triển quyền uy địa vị của Đảng, đặc biệt là những cơ quan và phương tiện xử dụng "bạo lực cách mạng" - quân đội, công an, cảnh sát, tổ chức Đảng - để trấn áp những kẻ mà Đảng coi như kẻ thù của Đảng trong và ngoài nước. Công việc này của Đảng tiêu thụ phần lớn tài nguyên và sản xuất của nước, nên không c̣n dư bao nhiêu để phân phối cho nhân dân và nâng cao đời sống của họ. 

 

Chủ trương thứ hai - kinh tế kế hoạch hoá và tập thể hoá - cũng có hậu quả kềm hăm sản xuất và tê liệt kinh tế, làm cho mức sống của nhân dân không cải tiến được. Sự thực này cũng đă được các nước cựu cộng sản Đông Âu chứng minh ngoạn mục từ ngày Bức tường Béclin sụp đổ: kinh tế của các chế độ mới dẹp bỏ chủ nghĩa xă hội, chấm dứt kế hoạch hoá và chấp nhận tự do kinh doanh, phần lớn đều đă phát triển mạnh, tạo điều kiện cho sự cải thiện ngoạn mục đời sống của dân chúng. 

Ai có con mắt quan sát khi đi vào các siêu thị ở các nước Tây phương, hay một số quốc gia Á Đông phát triển như Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, khi đứng trước một gian hàng bán, ví dụ đinh, với cả trăm loại, đủ kiểu, đủ cỡ, sẽ tự hỏi: làm sao một người công chức ngồi trong một gian pḥng ở trong một công sở ở kinh đô Nga (hay Việt Nam) có thể biết được trong một làng xa xôi, cách Môskôva (hay Hà Nội) hàng trăm cây số, có nhu cầu ǵ, lúc nào, cần loại đinh ǵ, bao nhiêu kư v.v... để lập kế hoạch sản xuất đinh cho toàn quốc!!! Đó là mới nói về đinh thôi, chứ chưa nói đến hàng ngàn hàng vạn món hàng khác mà dân chúng cần dùng hàng ngày, hàng giờ, khắp nơi trên toàn quốc, hay trên toàn thế giới... Với những cán bộ cả đời chưa buớc chân ra khỏi huyện hay tỉnh ḿnh, chớ chưa nói chi đến xuất cảnh đi đây đi đó khắp nới trên thế giới, th́ vấn đề trở thành: cứ quyết định đại, nghĩa là đời sống của hàng triệu người trong dân gian không thể "tự do, hạnh phúc" được v́ quyết định không sáng không suốt của các cán bộ dốt nát đó. 

 

Một vấn đề khác là sản xuất. Đây không phải là một công việc mà anh cán bộ nào cũng làm được miễn là anh ta "hồng hơn chuyên". Ai có chút ít kiến thức về kinh tế, hay có sống trong một môi trường kinh tế phát triển cũng biết rằng sản xuất đ̣i hỏi rất nhiều kiến thức và khả năng chuyên môn, về mua nguyên liệu, xây cất nhà máy, tổ chức kinh doanh, kế toán, tuyển chọn và điều khiển nhân viên, sắp xếp chương tŕnh sản xuất, t́m kiếm khách hàng v.v... không biết bao nhiêu là chuyện, mà toàn là thuộc lănh vực chuyên môn!!! 

 

Không giải quyết được những vấn đề trên th́ kinh tế lâm vào cảnh hỗn loạn, tŕ trệ, phí phạm tài nguyên và th́ giờ. Đó lại chính là t́nh trạng của Việt Nam trong 25 năm qua. Nhưng t́nh trạng này không thay đổi được v́ giới cầm quyền cộng sản vẫn "dĩ bất biến ứng vạn biến", nhất quyết kiên định con đường Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xă hội, tiếp tục áp dụng quan niệm và phương pháp thời chiến và cách mạng vào giải quyết những vấn đề thời b́nh và Việt Nam không c̣n phải sống dưới chế độ thực dân nữa. 

Bây giờ xin trở lại vần để chiến tranh "toàn dân, toàn diện, trường kỳ". 

Chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ: cơ cấu kinh tế không có, không tránh khỏi thất nghiệp 

 

Trong hơn 30 năm, nếu ta không kể 9 năm chiến tranh Miên-Việt, toàn nhân lực, tài nguyên, th́ giờ, nghị lực của nước Việt Nam và dân Việt Nam đổ dồn vào chiến tranh, một cuộc chiến tranh khốc liệt v́ kẻ địch là những đại cường quốc của thế giới. 

Trong suốt 30-40 năm, bao nhiêu sinh lực Việt Nam chỉ dùng vào công cuộc đập phá. Trong thời gian đó, chính quyền cũng như nhân dân hoàn toàn không có xây dựng cơ cấu sản xuất, trừ sản xuất khí giới và dụng cụ chiến tranh. Trong thời gian đó, toàn thể nhân dân chỉ được học tập và huấn luyện về chiến tranh, đặc biệt là những kỹ thuật đập phá, và hun đúc thái độ thù hận. Do đó, xứ sở không có cơ cấu kinh tế thời b́nh, không có công xưởng để sản xuất những vật dụng thường dùng cho dân chúng. Điều này, trong thời chiến, không hiển nhiên, v́ đă có Liên Xô, Trung cộng và các nước cộng sản khác cung cấp cho Việt Nam tất cả những ǵ mà không những binh đội mà thường dân cần dùng hàng ngày. 

 

Phần khác, trong một cuộc chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ", dân chúng không được huấn luyện về chuyên nghiệp trong mọi ngành cần thiết cho một quốc gia, nhứt là trong một thế giới tiến nhanh tiến mạnh về mặt kỷ thuật và giao thông toàn cầu. 

Kết quả của những dữ kiện trên là khi chiến tranh chấm dứt, và hàng triệu người giải ngũ, trở về đời sống dân sự b́nh thường th́ hoàn toàn lâm vào cảnh thất nghiệp, v́ không có khả năng chuyên môn ǵ cả, và dù có th́ một nền kinh tế không có cơ cấu kỹ nghệ, thương mại, kinh doanh, hành chánh,v.v... không thể cung cấp công ăn việc làm cho họ. Ngoài đánh giặc, hàng triệu dân Việt Nam không biết làm ǵ khác, và không có ǵ khác để làm. Thất nghiệp trở nên một t́nh trạng phổ biến không tránh khỏi. Để sinh sống, những người giải ngũ, mà không phải chỉ có riêng họ, mà c̣n biết bao nhiều người trai tráng, mạnh khoẻ nữa, phải bám vào quân đội, Đảng, Nhà nước, toàn những cơ chế tiêu thụ thay v́ sản xuất. Mà các cơ chế này lại thuộc về loại tiêu thụ đại quy mô! 

 

T́nh trạng trên đây trái ngược hẳn với t́nh trạng Miền Nam . Ở Miền Nam , suốt trong thời gian hai chiến tranh, quan niệm "chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ" không hề được chấp nhận, chớ nói chi đến thần thánh hoá. Ở Miền Nam chiến tranh chỉ là một sự bất đắc dĩ, có tính cách giới hạn, không chiếm hết tâm trí, tài nguyên, hoạt động của chính quyền cũng như của nhân dân. Đặc biệt là xây dựng kinh tế vẫn tiếp diễn, cơ cấu kỹ nghệ, thuơng mại, tài chính, kinh doanh, quản lư, huấn nghiệp vẫn được chính quyền và dân chúng thiết kế và chăm sóc. Do đó, sau khi chiến tranh kết thúc, dù rằng những nhà quản lư và chuyên gia cấp cao nhất của Miền Nam đă phải bỏ xứ ra đi, hay bị mấy đợt "cải tạo xă hội chủ nghĩa" loại diệt, các cơ cấu kinh tế và chuyên nghiệp được xây dựng tại Miền Nam trong thời chiến đă tỏ ra mạnh và sâu đến nỗi chính quyền cộng sản không triệt tiêu nó được, và sau 1980, nó đă làm cơ sở cho sự phục hưng kinh tế của toàn nước Việt Nam. Tuy vậy, v́ thiếu quản lư và chuyên gia ở mức thượng tầng, sự phục hưng này có giới hạn của nó. Đây là một khía cạnh hấp dẫn, nhưng không thể bàn trong khung cảnh của bài này. 

 

Khi ông Hồ dạy đàn em của ông, và những người này nhắm mắt nghe ông, kiên định chủ nghĩa Mác-Lê, coi đó là "cẩm nang thần thánh" có thể áp dụng vào tất cả các trường hợp, giải quyết tất cả các vấn đề, "dĩ bất biến ứng vạn biến", đem chủ thuyết lêninít-bônsêvích áp dụng vào t́nh trạng thời b́nh, là thời đại xây dựng, hợp tác chớ không phải thời đại đập phá, hận thù nữa, trong giai đoạn chiến tranh lạnh chấm dứt, chế độ cộng sản giải thể ở ngay thánh địa của nó, th́ kết quả là kinh tế hỗn loạn, tŕ trệ, tụt hậu như mọi người đều nhận thấy trong tiến tŕnh "xây dựng xă hội chủ nghĩa" trong 25 năm qua. 

Nhóm lănh đạo hiện tại của ĐCSVN vẫn "kiên định" tiếp tục đi con đường Mác-Lê và theo "tư tưởng Hồ Chí Minh", áp dụng nguyên tắc "dĩ bất biến ứng vạn biến", dù rằng từ 1978 trở đi đă có nhiều triệu chứng rằng kinh tế đang đi vào t́nh trạng suy sập, và năm 1980 th́ sự suy sập này quá hiển nhiên, có mù quáng và ngoan cố mấy cũng không chối căi được. Rồi năm 1991 lại xảy ra sự sập đổ và giải thể của Liên Xô, quốc gia lănh đạo của khối cộng sản, nơi phát sinh ra chủ nghĩa Mác-Lê, cùng sự giải thể của Đảng Cộng Sản Liên Xô. Dù rằng có những giải thích của những lănh tụ cộng sản Nga - Gorbachev: phải làm như vậy v́ t́nh trạng đến mức nghẹt thở hết chịu nổi - nhóm lạnh đạo ĐCSVN vẫn hành động cư xử như trên thế giới này không có ǵ chấn động, không có ǵ mới xảy ra. Trong khi đó, số cán bộ đảng viên bừng tỉnh càng ngày càng đông, và cũng v́ họ cũng nghẹt thở chịu hết nổi nên đă lên tiếng khuyến cáo lănh đạo 

 

Đảng, nhưng cũng vô hiệu. 

Vô phương cứu chữa? 

 

T́nh trạng trên đây coi như vô phương cứu chữa. Nhóm lănh tụ ĐCSVN hiện nay đang dẫn dân tộc Việt Nam đi càng ngày càng sâu xuống vực thẳm. Đó phải là mối lo lớn cho những người có trí tuệ, ưu tư về tiền đồ xứ sở, cho ngay cả những "cán bộ lư tưởng" lo cho thanh danh của Đảng đă một thời là hănh diện của họ, và nhứt là cho thế hệ trẻ, thế hệ sẽ phải gánh vác quốc sự trên vai trong những thập niên 2020-2030 tới đây, và phải chịu hậu quả nặng nhứt của những sự đổ vỡ mà t́nh trạng trên sẽ gây ra nếu nó kéo dài. Những giới này có nhiệm trách phải làm sao thực hiện một cuộc chuyển hướng căn bản để cứu nước, cứu Đảng, và tự cứu lấy bản thân họ. 

 

Ngày 30-4 này là một ngày rất thích hợp cho việc suy ngẫm về t́nh trạng trên đây. Cuộc suy ngẫm này nên bắt đầu với câu hỏi: "Ngày 30-4-1975 là ngày chấm dứt chiến tranh, mang lại bao nhiêu hy vọng hứa hẹn tự do, hạnh phúc cho toàn dân Việt, mà sao đến nay, 25 năm rồi, nước Việt Nam vẫn ch́m đắm trong tụt hậu, dân Việt Nam vẫn quằn quại trong thiếu thốn, sợ sệt, lo âu cho ngày mai? TẠI SAO? Sự lựa chọn con đường xă hội chủ nghĩa trong quá khứ, và tiếp tục áp dụng nó hiện nay có ảnh h ưởng ǵ đến t́nh trạng bi đát của dân Việt Nam và nước Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện nay, và nhất là cho tương lai, không?" 

  

Tôn Thất Thiện

Ottawa Viết nhân dịp ngày 30-4-2000