Nhớ Ơn Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cọng Hoà


Bài viết Trần Gia Phụng

                                                                       

Tŕnh bày tại Lễ Truy điệu Quân Dân Cán Chính VNCH

               tại Toronto , ngày Chúa Nhật 20-4-2003 .

 

Muốn t́m hiểu sự nghiệp cao cả cuả Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Ḥa đă hy sinh v́ tự do dân chủ cuả đất nước, trước hết xin hăy ôn lại sơ lược sự ra đời cuả chế độ nầy.

 

Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) là hậu thân cuả chế độ Quốc Gia Việt Nam (QGVN).  Nguyên sau khi cướp được quyền hành năm 1945, Việt Minh cộng sản đàn áp và tiêu diệt tất cả những ai không cùng khuynh hướng chính trị.  Những thành phần không cộng sản, theo đuổi lư tưởng tự do dân chủ, tập họp dưới sự lănh đạo cuả cựu hoàng Bảo Đại (1913-1997), tạm thời liên kết với Pháp để chống Việt Minh cộng sản độc tài, bạo ngược.  Năm 1949, cựu hoàng Bảo Đại và tổng thống Pháp là Vincent Auriol (1884-1966) kư kết hiệp định Élysée tại Paris, theo đó Pháp chính thức giải kết ḥa ước bảo hộ năm 1884, và trao trả độc lập lại cho Việt Nam dưới sự điều khiển cuả Quốc trưởng Bảo Đại.  Từ đó, chế độ QGVN chính thức h́nh thành.

 

Năm 1954, đất nước bị chia hai ở sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) bằng hiệp định Genève.  Việt Minh cộng sản cai trị phía bắc, và chính phủ Quốc Gia ở phía nam.  Quốc trưởng Bảo Đại cử ông Ngô Đ́nh Diệm làm thủ tướng ngày 7-7-1954 .  Sau cuộc trưng cầu dân ư ngày  23-10-1955 , ông Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963) tuyên bố thành lập chế độ Việt Nam Cộng Ḥa ngày 26-10-1955 .

 

Trong khi chính phủ Ngô Đ́nh Diệm chưa sẵn sàng để tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo quy định của Hiệp định Genève, th́ trong Đại hội lần thứ 20 đảng Cộng Sản Liên Xô vào tháng 2-1956, lănh tụ mới cuả Liên Xô là Nikita Khrushchev (1894-1971) vạch tội Joseph Stalin (1879-1953) và đưa ra chính sách "sống chung ḥa b́nh" giữa các nước không cùng chế độ chính trị.  Theo chủ trương nầy, vào đầu năm 1957, chính phủ Liên Xô đề nghị hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt.  Chính phủ Bắc Việt quyết liệt phản đối đề nghị nầy.(1) 

 

Bắc Việt chống lại đề nghị ban đầu của Liên Xô đưa hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc v́ Bắc Việt cương quyết tiến hành chiến tranh xâm lăng miền Nam.  Tại hội nghị ngày 13-5-1959 ở Hà Nội, Trung ương đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) ra nghị quyết thống nhất đất nước tức đánh chiếm miền Nam bằng vơ lực.(2)  Nghị quyết nầy được lập lại trong Đại hội 3 đảng Lao Động, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960, mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xă hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng Lao Động là xây dựng miền Bắc tiến lên Xă hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng vơ lực.(3)

 

Do việc Bắc Việt không chịu chung sống ḥa b́nh để chờ ngày thống nhất, cương quyết xâm lăng miền Nam, nên VNCH phải tự vệ và nhờ Hoa Kỳ viện trợ để bảo vệ tự do dân chủ ở miền Nam. 

 

Chúng tôi phải dài ḍng vào đề như thế để quư vị thấy rằng ngay từ đầu, v́ lư do tự vệ chính đáng, QGVN, rồi VNCH không c̣n con đường chọn lựa nào khác là phải liên kết với Pháp, rồi với Mỹ để chống cộng.  Cộng sản Việt Nam khai thác sự liên kết công khai nầy và vu cáo rằng Quân lực QGVN cũng như VNCH là tay sai cuả Pháp và Mỹ, gây hiểu lầm nơi nhiều người, nhưng thử hỏi nếu những thanh niên Việt Nam không gia nhập quân đội th́ lấy ai chiến đấu chống cộng sản? Và nếu Quân đội QGVN, rồi VNCH không nhờ sự trang bị cuả Pháp rồi cuả Mỹ th́ lấy vũ khí đâu để chống cộng sản?  Trong khi đó, cộng sản Bắc Việt được Liên Xô, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa và toàn khối Cộng sản Quốc tế yểm trợ từ đầu cho đến cuối, mà cho đến ngày nay, cộng sản Trung Hoa cũng c̣n yểm trợ CSVN.

 

Chúng ta phải giải toả rơ ràng điểm nầy chẳng những đối với người Việt mà với quốc tế nữa, để thấy rằng những Quân Dân Cán Chính, những chiến sĩ anh hùng QGVN và VNCH là những người đă hy sinh xương máu, chiến đấu để bảo tự do dân chủ cho một vùng đất sinh tồn, một xă hội dân chủ, một khoảng không gian sinh hoạt cho những người không cộng sản, yêu chuộng nếp sống tự do dân chủ, có thể tiếp tục tồn tại từ 1954 đến 1975.  Có thể nói, nếu không có họ, th́ không có mảnh đất tương đối tự do dân chủ cho 20 triệu đồng bào miền Nam trong suốt 21 năm đó. 

 

Cũng chính nhờ sự hiện hữu cuả mảnh đất tương đối tự do đó, nền văn hoá cổ truyền và nền văn minh Việt Nam được bảo lưu cho đến ngày nay, mà không bị lai tạo do nhu cầu chính trị cộng sản.  Thơ văn, lịch sử không bị sưả đổi để phục vụ chế độ.  Tôn giáo được tự do phát triển để duy tŕ đời sống tâm linh, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc.  Trong khi đó, ở ngoài bắc, dưới sự cai trị cuả cộng sản, tập tục văn hóa bị thay đổi, luân thường đạo lư bị đảo lộn, chùa chiền nhà thờ bị huỷ diệt, lịch sử bị bóp méo, thơ văn chỉ một giọng ca tụng “bác và đảng”...

 

Hai mươi mốt năm trong không khí tự do dân chủ, ít nhất là một thế hệ người Việt Nam hoàn toàn trưởng thành.  Ngoài ra, c̣n nhiều thế hệ trước cũng như sau thế hệ đó được hưởng và hiểu thế nào là tự do dân chủ.  Điều nầy rất cần thiết v́ những người đă sống trong không khí tự do dân chủ VNCH là những hạt nhân tự do dân chủ mà cộng sản không thể nào chế ngự được.  Ở trong cũng như ngoài nước, những hạt nhân nầy đang tiếp tục sinh sôi nẩy nở và chống lại sự chuyên chế cuả cộng sản.  Những hạt nhân nầy tồn tại măi măi, nên chẳng những cộng sản không bao giờ có thể độc tôn trí tuệ hay tâm tư cuả người Việt Nam , mà cộng sản càng ngày càng bị đẩy lùi vào bóng tối quá khứ.

 

Trên b́nh diện quốc tế, cần phải nhấn mạnh là chính sự chiến đấu cuả Quân Dân Cán Chính VNCH nếu không chận đứng, cũng đă làm chậm lại sự phát triển cuả chủ nghĩa cộng sản xuống Đông Nam Á, nên nhân dân các nước Đông Nam Á không bị nhuộm đỏ.  Họ được hưởng ḥa b́nh nhờ sự hy sinh cuả Quân Dân Cán Chính VNCH, và nhờ thế họ có thời gian và cơ hội phát triển đất nước như ngày nay.

 

Cũng  chính nhờ có Quân Dân Cán Chính và nhờ có sự chiến đấu cuả họ, mới có t́nh chiến hữu với các nước đồng minh.  Chiến sĩ và nhân dân các nước nầy đă một thời chia xẻ tâm tư nguyện vọng với chiến sĩ và dân chúng VNCH.  Chính nhờ t́nh chiến hữu đồng minh, mà các nước nầy đă mở rộng ṿng tay đón nhận người tỵ nạn Việt Nam sau năm 1975.  Thử xem lại những nước mà người Việt định cư đông nhất là những nước nào?  Đó là những nước đồng minh trước kia đă từng sát cánh chiến đấu cùng Quân Dân Cán Chính VNCH, như Pháp, Hoa Kỳ, Úc, Gia Nă Đại... 

 

Do đó, là những người Việt Nam ở Hải ngoại ngày hôm nay, chúng ta đă hai lần mang ơn những chiến sĩ Quân Dân Cán Chính VNCH:  Họ đă hy sinh bảo vệ miền Nam trong suốt 21 năm cho chúng ta sinh sống, và họ đă mở sẵn con đường t́nh nghĩa để cho chúng ta ra đi tỵ nạn sau năm 1975, v́ nếu không có họ, th́ chưa chắc thế giới đă mở rộng ṿng tay dễ dàng đón nhận chúng ta.  Chính hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi đă quay trở lại cứu giúp đồng bào ḿnh thoát khỏi nạn đói do chính sách kinh tế chỉ huy sai lầm cuả cộng sản sau năm 1975, và ngày nay cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại là động lực thúc đẩy những thay đổi đang dần dần diễn ra ở trong nước.

 

Một đặc tính nổi bật khác cuả công cuộc chiến đấu cuả Quân Dân Cán Chính VNCH chính là họ không chiến đấu v́ cá nhân một lănh tụ mà họ chiến đấu v́ quốc gia, v́ dân tộc.  Những chiến sĩ VNCH nói chung không trung thành với cá nhân ông Ngô Đ́nh Diệm, ông Dương Văn Minh (1916-2001), hay ông Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001), mà họ trung thành với tổ quốc, với dân tộc.  Họ chiến đấu v́ sự sống c̣n cuả Việt Nam Cộng Ḥa.  Họ không chiến đấu v́ một đảng phái chính trị nào như những cán binh cộng sản Bắc Việt cho đảng Lao Động tức đảng Cộng Sản Việt Nam .  Họ cũng không chiến đấu cho quyền lợi ngoại bang như ông Lê Duẩn (1908-1986) đă tuyên bố về mục đích tấn công miền nam cuả cán binh cộng sản Bắc Việt: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc." (4)

 

Quân Dân Cán Chính VNCH không hiếu chiến, không gây hấn, không muốn tàn sát đồng loại, nhưng ở thế tự vệ, họ phải chiến đấu.  Bất đắc dĩ phải cầm súng chống lại những người ở chiến tuyến bên kia, dầu sao cũng là đồng bào cuả ḿnh, nhưng với lương tâm dân tộc, với trái tim người Việt, những chiến sĩ VNCH luôn luôn thao thức về số phận đồng bào và tương lai đất nước.  V́ vậy mới xuất hiện một số thơ văn và bài hát ca tụng ḥa b́nh hay phản chiến ở miền Nam .  Trong khi đó, cán binh cộng sản chỉ biết chém giết, hận thù, anh hùng cá nhân và hoàn toàn không có một chút thương xót đồng bào tử nạn.  Trước năm 1975, ngoài Bắc không có một bài hát ca tụng hoà b́nh đă đành, mà sau năm 1975, cho đến hôm nay, năm 2003, thưa các bạn nhớ kỹ cho là năm 2003, trong khi dân chúng trên toàn quốc làm lễ cúng giổ tưởng niệm bà con là những người đă tử nạn trong chiến cuộc Tết Mậu Thân 1968, th́ cộng sản Việt Nam lại làm lễ ăn mừng trận đánh năm nầy.(5)  Cộng sản ăn mừng trên sự đau khổ cuả đồng bào Việt Nam, trong đó có cả gia đ́nh những cán binh cộng sản ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam đă bỏ ḿnh trong trận đánh nầy.

 

Trong một thời gian dài, do những âm mưu tuyên truyền thâm độc, do những vận động phản chiến, có một số người không hiểu hay hiểu lầm sự hy sinh cuả những người đă bảo vệ nền Cộng ḥa non trẻ cuả chúng ta.  Khi Bắc Việt cộng sản tràn vào chiếm được miền Nam , thi hành chế độ độc tài đảng trị chuyên chế, những người đó mới sáng mắt ra và mới ư thức được giá trị cuả sự hy sinh trước đây cuả Quân Dân Cán Chính VNCH.  Cuộc bỏ phiếu bằng chân vĩ đại cuả dân chúng Việt Nam sau năm 1975, bất chấp hiểm nguy, đă vượt biên ồ ạt làm rúng động cả lương tâm nhân loại.  Rồi sự sụp đổ của chế độ cộng sản Liên Sô và Đông Âu, một lần nữa có giá trị lịch sử biện minh mạnh mẽ cho sự hy sinh chiến đấu cuả Quân Dân Cán Chính VNCH.  Họ là những anh hùng sống, chiến đấu và hy sinh v́ nền tự do dân chủ chẳng những cuả Việt Nam mà cả cuả nhân dân thế giới.

 

Sự hy sinh cuả Quân Dân Cán Chính QGVN và VNCH quá vĩ đại và vô hạn, không thể nào tŕnh bày hết được trong một bài viết ngắn.  Có lẽ tốt nhất, xin mọi người nhớ lại câu văn bất hủ cuả nhà văn Roumania gốc Do Thái, Elie Wiesel, giải Nobel Ḥa b́nh năm 1986.  Trong tác phẩm Night (Đêm), ông đă viết một câu thật đáng nhớ: "Được sống sót là mắc nợ những người đă chết...Ai không nhớ đến những người đă chết là thêm một lần nữa phản bội họ." (Nguyễn Ước dịch). 

 

Và như trên đă viết, chúng ta, những người Việt ra hải ngoại sinh sống sau năm 1975, đă hai lần mắc nợ công ơn cuả những Quân Dân Cán Chính QGVN và VNCH, xin đừng để phải mắc nợ lần thứ ba hay lần thứ tư nữa.

 

                                                                                                            Trần Gia Phụng

CHÚ THÍCH:

 

1.         William Duiker, Ho Chi Minh , New York : Nxb. Hyperion, 2000, tr. 500.

2.         Nhật báo Nhân Dân, Hà Nội: 14-5-1959 .

3.         Chính Đạo, Việt Nam niên biểu: 1939-1975, tập I-C: 1955-1963, Houston : Nxb. Văn Hóa,
            tr. 181.

4.         Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi kư chính trị của một người không làm chính trị),
           
California : Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 422, phần chú thích.

5.         Đứng về mặt quân sự, trong trận đánh nầy, cộng sản hoàn toàn thất bại, ngoại trừ họ gây
            được tiếng vang quốc tế và tạo đề tài tuyên truyền phản chiến.

      

(Bản nguyên tác của người viết)