Những ngày cuối cùng của VNCH


Trần Đông Phong
(Trích trong: "Trần Văn Hương, Kẻ Sĩ Cuối Cùng" )


   

Những diễn biến đưa đến cuộc tổng tấn công của Cộng sản Bắc Việt tại Miền Nam Việt Nam từ tháng ba năm 1975 cho đến ngày Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng thật ra đă khởi đầu từ Washington vào mùa thu năm 1974, từ Mạc Tư Khoa vào cuối năm 1974, tại Hà Nội và tại Sài G̣n vào tháng 12 năm đó.

Sau khi kư kết Hiệp Định Paris vào cuối tháng 1 năm 1973, Hà Nội đă nhiều lần xin Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa gia tăng viện trợ quân sự nhưng đă bị cả hai quốc gia Cộng sản đàn anh bác bỏ. Tuy nhiên một năm rưỡi sau đó th́ t́nh h́nh lại hoàn toàn thay đổi, thuận lợi nhiều hơn cho Bắc Việt, chỉ v́ một sự kiện chẳng có dính dáng ǵ đến Việt Nam mà chỉ có liên hệ đến người Nga gốc Do Thái. Trước khi trở thành ngoại trưởng, trong thời gian c̣n giữ chức Phụ Tá Về An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Nixon, Tiến sĩ Henry Kissinger đă mở nhiều cuộc thương thuyết nhằm giảm bớt căng thẳng (detente) trong bang giao Mỹ - Liên Xô và cũng nhằm lấy cảm t́nh với Liên Xô để nhờ đó đại cường Cộng sản này gây áp lực với Hà Nội tiến đến việc kư kết hiệp ước mang lại ḥa b́nh (cho người Mỹ) tại Việt Nam, ông đă hứa hẹn với các nhà lănh đạo Nga Xô rằng Hoa Kỳ sẽ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối-huệ-quốc (most-favored nation). Với quy chế này, Liên Xô có thể mở rộng giao thương với Tây phương, một mục tiêu mà Nga Xô đang cấp bách t́m cách thực hiện để cứu văn nền kinh tế xă hội chủ nghĩa đang kiệt quệ. Để đáp lại thiện chí này, lănh tụ Liên Xô Brezhnev đă áp lực với Hà Nội thôi không đ̣i hỏi phải loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu như là một trong những điều kiện căn bản để kư kết hiệp định Paris. Sau đó, mặc dù Cộng Sản Bắc Việt đă nhiều lần khẩn thiết yêu cầu, Liên Xô đă từ khước không chịu gia tăng viện trợ quân sự v́ không muốn làm mất ḷng Hoa Kỳ, do đó chỉ viện trợ về kinh tế cho Hà Nội mà thôi.
Vào khoảng cuối năm 1974, Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt đă soạn thảo một kế hoạch quân sự trong năm 1975, theo kế hoạch này th́ các lực lượng Cộng sản sẽ gia tăng đánh phá tại các chiến trường B2, B3 và B4 để chiếm các tiền đồn, các quận lỵ hẻo lánh, cô lập các lực lượng của VNCH rồi sang năm 1976, khi tại Hoa Kỳ đang diễn ra cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 th́ Cộng sản sẽ mở các cuộc tổng tấn công để chiếm trọn Miền Nam. Kế hoạch này đă được các cấp lănh đạo của Đảng như Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Quân Ủy Trung Ương chấp thuận trên nguyên tắc, tuy nhiên giới lănh đạo Đảng muốn đưa dự án kế hoạch này ra thảo luận trước phiên họp Khoáng Đại của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng vào trung tuần tháng 12 năm 1974 để đại hội phê chuẩn. Tháng 11 năm 1974, hai đại diện của Trung Ương Cục Miền Nam là Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam và Trung Tướng Trần Văn Trà, Tư Lệnh Quân sự tại Miền Nam đă được lệnh ra Hà Nội để phối hợp với các lănh tụ quân sự Bắc Việt hoạch định kế hoạch tấn công tại miền Nam trong năm 1975. Trong những phiên họp này, đại diện của Trung Ương Cục Miền Nam đă đưa ra đề nghị tấn công và chiếm đóng tỉnh Phước Long nhắm vào hai mục đích. Về quân sự, khi tấn công vào Phước Long th́ Việt Cộng sẽ chiếm được 5 tiền đồn quan trọng, sẽ thiết lập được con đường chiến lược cho các chiến xa, cơ giới, trọng pháo, xe chở nhiên liệu và binh sĩ từ vùng phi quân sự di chuyển thẳng xuống miền Đông Nam phần một cách dễ dàng. Cuộc tấn công này sẽ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của VNCH và do đó sẽ không c̣n đủ quân để tiếp viện cho những chiến trường khác. Về phương diện chính trị, nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để mất tỉnh Phước Long th́ ông sẽ bị mất uy tín rất nhiều tại Miền Nam và quan trọng hơn cả là để xem Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào khi Cộng sản lần đầu tiên chiếm được một tỉnh tại miền Nam Việt Nam, nhất là sau khi Tổng thống Richard Nixon phải từ chức v́ vụ Watergate và Tổng Thống Gerald Ford lên thay thế.


*Từ Mạc Tư Khoa Trong khi hai đại diện của Trung Ương Cục Miền Nam đang vận động cho kế hoạch tấn công tỉnh Phước Long trong tháng 12 năm 1974 th́ ngày 18 tháng 12 năm đó, phiên họp khoáng đại kỳ thứ 23 của Ủy Ban Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam đă được khai mạc để thảo luận về kế hoạch tấn công Miền Nam trong năm 1975. Một nhân vật bất ngờ xuất hiện trong phiên họp khoáng đại này là Đại Tướng Victor Kulikov, Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng kiêm Tư Lệnh Hồng Quân Liên Bang Xô Viết mới từ Mạc Tư Khoa đến Hà Nội. Vào giữa năm 1974, sau khi lên làm ngoại trưởng, ông Kissinger đă thực hiện lời hứa hẹn với Nga Xô hồi năm 1972, đă vận động với Quốc Hội Mỹ cho Liên Xô được hưởng quy chế "tối huệ quốc" và dự luật này đă được Hạ Viện thông qua. Nhưng khi bản dự luật này được đưa lên Thượng Viện vào mùa Thu năm 1974 th́ Thượng Nghị Sĩ Henry Jackson thuộc Đảng Dân Chủ tiểu bang Washington, một nghị sĩ thuộc phe "diều hâu", tức là phe ủng hộ VNCH, nhưng ông này lại không ưa Tiến sĩ Henry Kissinger, ông là một trong những nghị sĩ đang hy vọng ra ứng cử tổng thống vào năm 1976 cho nên v́ muốn chiếm được cảm t́nh của cử tri gốc Do Thái, đă kèm vào dự luật này một tu chánh án liên kết việc thông qua dự luật với điều kiện Liên Xô phải cởi mở hơn trong việc cho phép công dân Liên Xô gốc Do Thái được di dân sang Tây phương một cách dễ dăi hơn. Dự luật này về sau được gọi là tu chính án Vanix-Jackson và trong thập niên 1990, cộng đồng người Việt hải ngoại đă vận động với quốc hội Mỹ để áp dụng tu chính án này trong việc kư kết thương ước giữa Hoa Kỳ với Công sản Việt Nam. Cũng trong thời gian đó, nhiều nghị sĩ khác đă kèm theo nhiều tu chính khác giới hạn việc chấp thuận cho Liên Xô vay nhiều món nợ khác nếu không dành sự dễ dăi cho người Nga trong việc di dân sang Do Thái. Mạc Tư Khoa phản đối và Ngoại Trưởng Kissinger đă nhiều lần cảnh cáo quốc hội rằng thêm vào những tu chính như vậy sẽ bị Liên Xô xem là can thiệp vào nội t́nh của quốc gia họ và sẽ không có lợi cho Hoa Kỳ. Tuy nhiên cho đến tháng 12 năm 1974 th́ quốc hội cũng không nhượng bộ và dự luật về thương mại kèm theo những tu chính đă được thông qua. Dù rằng cho đến ngày 3 tháng 1 năm 1975 bản dự luật này mới được Tổng Thống Gerald Ford ban hành, nhưng về phía Liên Xô th́ họ biểu lộ cho thấy họ không thể chấp nhận được việc các nghị sĩ Hoa Kỳ đă can thiệp vào việc nội chính của Liên Bang Xô Viết, do đó Liên Xô đă nổi giận và t́m cách trả đũa bằng cách "phia Hoa Kỳ tại Việt Nam. Liên Xô phản đối mạnh mẽ đạo luật này, họ nói rằng sự "liên kết" (linkage) giữa thương mại với vấn đề di dân của người Do Thái đă vi phạm những sự hứa hẹn với Tiến sĩ Kissinger. Hăng thông tấn Tass của Liên Xô lên tiếng cảnh cáo rằng người Nga sẽ có sự "trả đũa", họ không nói rơ trả đũa như thế nào, nhưng một tuần sau th́ đại sứ Liên Xô tại Washington đă bị triệu hồi về nước để "tham khảo", đồng thời Tướng Viktor Kulikov được Điện Cẩm Linh phái sang Bắc Việt. Tướng Viktor Kulikov đến Hà Nội vào tháng 12 năm 1974, trên danh nghĩa với tư cách là đại diện cho Hồng Quân Xô Viết tại lễ Kỷ Niệm 30 Năm Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, tuy nhiên sau đó đă tham dự Phiên họp Khoáng đại Kỳ thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam. Căn cứ vào sự phân tích của t́nh báo KGB về t́nh h́nh chính trị tại Hoa Kỳ sau khi Tổng Thống Richard Nixon bị áp lực phải từ chức, Tướng Kulikov nói với các lănh đạo đảng và quân đội Bắc Việt rằng Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ không chấp thuận cấp thêm viện trợ kinh tế cũng như là quân sự cho miền Nam Việt Nam nữa, như vậy th́ đây là lúc thuận lợi nhất để mở các cuộc tấn công đại quy mô tại Miền Nam và Liên Xô cam kết sẽ ủng hộ kế hoạch tấn công này bằng cách tích cực gia tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt. *Từ Washington Thực ra th́ chẳng cần phải nhờ tới cơ quan t́nh báo KGB mới biết được chiều hướng chính trị đang trên đà giải kết tức là bỏ rơi Việt Nam Cộng Ḥa tại Hoa Kỳ.
  
Trong bộ sách "The Vietnam Experience", cuốn "The fall Of The South", các tác giả bộ sách này đă nói rằng: "Các cấp lănh đạo Cộng sản chỉ cần đọc báo chí Tây Phương cũng đủ biết rơ về sự suy giảm trong vấn đề viện trợ cho Miền Nam Việt Nam, cả về số tiền viện trợ cũng như là thăm ḍ dư luận. Ngày 22 tháng 5 năm 1974, Hạ Viện biểu quyết không được tăng con số tiền viện trợ quân sự cho tài khóa 1974 quá mức 1,126 triệu mỹ kim dù rằng Ủy Ban Quân Vụ Hạ Viện đă đề nghị 1.400 triệu. Về tài khóa 1975 bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 năm 1974 đến ngày 30 tháng 6 năm 1975 th́ lại càng tệ hại hơn v́ vào hai ngày 22 và 23 tháng 9 năm 1975, cả Hạ Viện và Thượng Viện Hoa Kỳ đă biểu quyết chỉ cấp cho VNCH 700 triệu mỹ kim mà thôi v́ công luận Hoa Kỳ không muốn nghe nói đến chiến tranh Việt Nam nữa. Sự sụt giảm về viện trợ này đă đưa đến ảnh hưởng vô cùng sâu đậm cho Quân Lực VNCH v́ nếu tính thêm vào sự mất giá của đồng mỹ kim và giá nhiên liệu cũng như là tất cả các hàng hóa khác trên thị trường thế giới gia tăng sau cuộc khủng hoảng nhiên liệu vào năm 1973 th́ con con số viện trợ khiêm tốn này chẳng c̣n bao nhiêu." [1] Sự hiện diện của Tướng Viktor Kulikov không tránh được sự quan sát của các cơ quan t́nh báo của Hoa Kỳ tại Việt Nam và ông Wolfgang Lehmann, Xử lư Thường Vụ Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n đă đánh một công điện "mật" về Hoa Thịnh Đốn tường tŕnh về vụ này. Ngoài việc báo cáo sự hiện diện của Tướng Viktor Kulikov tại Hà Nội mà ông Lehmann nói rằng ông Tướng Hồng Quân Xô Viết này không phải sang Hà Nội để chúc mừng Giáng Sinh, bức điện văn của ông Lehmann c̣n lưu ư và nhắc nhở một sự trùng hợp tương tự về sự hiện diện của Nicolai Podgorny, Chủ Tịch Nhà Nước và Pavel Batitsky, Thứ Trưởng Quốc Pḥng Liên Xô tại Hà Nội vào năm 1972 và sau đó Liên Xô đă gia tăng viện trợ quân sự cho Hà Nội để mở các cuộc tấn công vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Tại Hoa Thịnh Đốn, không có ai chú ư đến bức điện văn này của viên Xử Lư Thường Vụ Đại sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt Nam gửi về từ Sài G̣n. Ngoài điện văn của ông Lehmann, Trưởng Văn pḥng CIA ở Sài G̣n và Frank Snepp cũng gửi một điện văn báo động về việc này với CIA ở Washington.  
Frank Snepp cho biết điện văn này lưu ư việc các nhân vật trọng yếu Liên Xô viếng thăm Hà Nội vào cuối năm 1971 đă đưa đến việc Cộng Sản mở cuộc tổng tấn công vào mùa Hè năm 1972 và báo động với Washington rằng sự viếng thăm này cũng có thể đưa đến những diễn tiến tương tự như hồi 1972.

           

Tuy nhiên, v́ lúc đó cả Sài G̣n lẫn Washington đều không biết rằng Hà Nội đang triệu tập Đại Hội Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam kỳ thứ 23 cho nên cả Bộ Ngoại giao Mỹ lẫn CIA ở Washington đều cho rằng việc này chỉ là một sự "thông lệ", chẳng có ǵ đáng quan trọng. Sau khi Kulikov trở về Mạc Tư Khoa, Liên Xô đă thực hiện lời hứa của Kulikov và viện trợ quân sự cho Bắc Việt đă gia tăng gấp 4 lần trong những tháng giêng, hai và ba năm 1975. Không những chỉ gia tăng viện trợ vũ khí đạn dược, Liên Xô c̣n cung cấp những tin tức t́nh báo bằng vệ tinh cho quân đội Cộng sản tại miền Nam. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Liên Xô phóng vệ tinh từ căn cứ Plessetsk với góc độ 65 độ và 8 ngày sau đó lại phóng thêm một vệ tinh thứ hai với góc độ 81 độ và cả hai vệ tinh này đă quan sát được mọi hoạt động trên toàn cơi Việt Nam. Đây là loại vệ tinh mới nhất của Liên Xô có đủ khả năng chụp được những bức không ảnh với h́nh ảnh những xe cộ và chiến xa rất rơ ràng. Từ Mạc Tư Khoa, những bức không ảnh này được chuyển sang Hà Nội trong ṿng vài tiếng đồng hồ sau đó và Hà Nội lại chuyển vào Nam cho Tướng Văn Tiến Dũng nhờ đó Cộng sản Bắc Việt biết rơ đang phải đối đầu với quân số và đơn vị ở cấp nào. Mấy tháng sau ngày Cộng sản Bắc Việt thôn tính toàn bộ Miền Nam th́ chính phủ Hoa Kỳ mới biết được rằng chính Liên Xô đă tích cực khuyến khích Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công dứt điểm tại Miền Nam, Liên Xô đă cố vấn cho Hà Nội rằng v́ quốc hội Mỹ nhất quyết không viện trợ thêm về kinh tế cũng như là quân sự cho VNCH, như vậy nếu Hà Nội mở những cuộc tổng tấn công Miền Nam th́ hy vọng thắng lợi sẽ chắc chắn hơn bao giờ hết. Lúc đó th́ mọi sự đă quá trễ rồi!
  
*Từ Dinh Độc Lập, Sài G̣n Chỉ cách mấy ngày sau khi Tướng Kulikov cam kết Liên Xô sẽ gia tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt, trong hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă triệu tập một cuộc họp với các cấp lănh đạo quân đội của VNCH tại Dinh Độc Lập nhằm ước đoán về những cuộc tấn công của Cộng sản Bắc Việt tại Miền Nam vào mùa khô năm 1975. Trong phiên họp này, các nhà lănh đạo quân sự miền Nam đă ước tính rằng Cộng sản Bắc Việt sẽ mở những cuộc tấn công trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Cao nguyên Trung Phần, tuy nhiên sẽ không có tầm mức đại quy mô như các cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân hồi năm 1968 và Mùa hè Đỏ Lửa 1972. Hội nghị quân sự này cũng ước tính rằng các lực lương quân sự của Cộng sản vẫn c̣n trong t́nh trạng yếu kém và chưa đủ khả năng để tấn công và chiếm giữ bất cứ một tỉnh hay thành phố lớn nào tại miền Nam Việt Nam. Trong vùng chung quanh thủ đô Sài G̣n, hội nghị này cho rằng Cộng sản sẽ mở các cuộc tấn công vào phía tây tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt-Miên, vào khoảng thời gian trước hay là sau Tết tức là vào đầu tháng 2 năm 1975 và sẽ tiếp diễn cho đến khi mùa mưa bắt đầu vào khoảng tháng 6 năm đó.  Một điều mà Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH cũng đă đi đến quyết định là sẽ không gia tăng pḥng thủ vùng phía tây Quân khu II và bắt đầu thiết lập một lực lượng trừ bị chiến lược để pḥng thủ vùng ṿng đai Sài G̣n. Một điều mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như các nhà lănh đạo quân sự của VNCH không hề hay biết là có một điệp viên của Cộng sản Bắc Việt hoặc là đă có mặt trong pḥng họp, hoặc là đă đọc được biên bản của phiên họp này. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1975, một bản phúc tŕnh đầy đủ về phiên họp, về các sự thảo luận cũng như là các quyết định của các giới lănh đạo quân sự miền Nam đă được chuyển đến tận tay giới lănh đạo Bắc Việt cùng với Tướng Văn Tiến Dũng. Theo nhà báo Oliver Todd, "CIA của Mỹ ở Sài G̣n tin rằng trong số những người thân cận của Tổng Thống Thiệu, có một gián điệp cao cấp của Hà Nội . Người đó là ai? Trung Tướng Đặng Văn Quang? Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo? Hay là một người nào khác?"[1] Trong binh pháp, các tư lệnh chiến trường bao giờ cũng cố gắng t́m hiểu về các kế hoạch của đối phương trong khi che dấu, ngụy trang các kế hoạch hành quân của ḿnh và vào cuối năm 1974, các nhà lănh đạo quân sự Cộng sản Bắc Việt đă nắm được những yếu tố chiến lược có tính cách quyết định qua những tin tức t́nh báo về các buổi họp của các nhà lănh đạo quân sự cao cấp tại Dinh Độc Lập trong bản phúc tŕnh mà gián điệp Cộng sản đă gởi về Hà Nội. Nhờ những yếu tố mới này, Cộng sản Bắc Việt đă hoàn tất các kế hoạch tấn công cho năm 1975 mà trước đó vẫn chưa thành h́nh và chưa có quyết định tối hậu.

 

*Kế hoạch đầu tiên là chấp thuận tấn công Phước Long. Đầu tháng 12 năm 1975, Cộng sản cho mở một vài cuộc tấn công gần Tây Ninh để nhử cho VNCH gởi các đơn vị trừ bị đến tăng cường cho tỉnh này. Ngày 13 tháng 12 năm 1974, Cộng sản đưa ba sư đoàn, lúc đó được gọi là "công trường" 3, 7 và 9 tấn công vào 5 mục tiêu trong tỉnh Phước Long được bảo vệ bởi một số đơn vị Địa Phương Quân và đă chiếm được hai tiền đồn Bố Đức và Đức Phong ngày hôm sau. Quận Đôn Luân do một tiểu đoàn Địa Phương Quân trấn giữ đă anh dũng đẩy lui được đợt tấn công đầu tiên, tuy nhiên quốc lộ 14 đă bị Cộng quân cắt đứt. Không quân VNCH phải vận tăi tiếp liệu và di tản thương binh cùng thường dân bằng phi cơ C-130, nhưng sau đó Cộng quân đă pháo kích vào phi trường Phước B́nh, tiêu hủy một chiếc C-130, làm hư hỏng một chiếc khác và phi trường Phước B́nh đă bị Cộng quân pháo kích hàng ngàn trái đạn do đó không c̣n sử dụng được. Ngày 26 tháng 12 năm 1974, sau 13 ngày anh dũng chống trả lại các cuộc tấn công biển người của Cộng sản, tiền đồn Đôn Luân bị thất thủ sau khi bị Cộng quân pháo kích hàng ngàn đạn pháo binh rồi sử dụng chiến xa và quân bộ chiến tràn ngập quận lỵ này. Sau khi Đôn Luân bị thất thủ, các đơn vị của Quân Lực VNVH đă chống trả các cuộc tấn công biển người của 3 sư đoàn Cộng quân với sự yểm trợ củ chiến xa T-54 và đại pháo 130 ly trong hơn 10 ngày. Tuy nhiên sức người có hạn, vào nửa đêm hôm 6 tháng 1 năm đó, sau khi các vũ khí hạng nặng và trang bị truyền tin bị pháo và chiến xa của cộng sản phá hủy hoàn toàn, với biển người tấn công ào ạt, một số mấy trăm chiến sĩ thuộc các binh chủng Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù, Địa Phương Quân và Nghĩa quân thuộc tỉnh Phước Long đă rút được vào những khu rừng rậm quanh tỉnh lỵ Phước B́nh. Trong tổng số 5,400 chiến sĩ bảo vệ cho toàn tỉnh Phước Long, chỉ có 850 người đă thoát được và trở về tŕnh diện Quân Đoàn III. Về phía Hoa Kỳ, không hề có một phản ứng nào, không có một phản kháng nào đối với việc Cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công chiếm tỉnh Phước Long. Trong thời gian diễn ra trận Phước Long, Tổng Thống Gerald Ford có thể ra lệnh cho một lực lượng đặc nhiệm hải quân trong đó có hàng không mẫu hạm nguyên tử Enterprise đang hoạt động trong vùnggần bờ biển Việt Thái B́nh Dương tiến vào vùng hải phận gần bờ biển Việt Nam nhưng thay vào đó, hạm đội này lại được lệnh đi thẳng sang Phi Châu. Trần Đông Phong (II) (Trích trong "Trần Văn Hương, Kẻ Sĩ Cuối Cùng" )
  
*Từ Hà Nội Không thấy Hoa Kỳ có phản ứng ǵ sau khi tỉnh Phước Long của VNCH bị Cộng sản chiếm, được sự khuyến khích và tăng viện của Liên Xô, Cộng sản Bắc Việt chấp thuận cho thi hành kế hoạch thứ hai, đó là Chiến Dịch 275 tức là chiến dịch nhằm tấn công và nếu có thể được th́ chiếm một số tỉnh trong khu vực chiến trường B3 tức là vùng Cao Nguyên và chiến trường B4 tức là vùng phía Nam sông Thạch Hăn thuộc tỉnh Quảng Trị. Cộng sản Bắc Việt đề cử Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân vào Nam chỉ huy chiến dịch này. Tại Hà Nội, các cấp lănh đạo đă nắm chắc được rằng Hoa Kỳ sẽ không c̣n dám can thiệp quân sự tại Đông Dương nhất là sau khi Quốc Hội Mỹ thông qua đạo luật War Powers Act hồi cuối năm 1973 cấm tổng thống Hoa Kỳ không được sử dụng quân đội nếu không được sự chấp thuận của quốc hội và nhất là đa số dân biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ thuộc Đảng Dân Chủ đang có khuynh hướng chống lại việc ủng hộ cho VNCH. Hai ngày sau khi Phước Long bị thất thủ, Phạm Văn Đồng đă tuyên bố với các ủy viên trong Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động rằng: "Bây giờ th́ dù bằng cách nào, người Mỹ cũng không c̣n có thể gởi quân đội sang tham chiến tại Việt Nam được nữa. Họ có thể yểm trợ bằng không quân hay hải quân, tuy nhiên hai quân chủng này cũng không thể đem lại sự chiến thắng cũng như là thất bại. "Tôi nói giỡn, nhưng mà đó là sự thật, khi tôi khẳng định rằng dù có cho ăn kẹo, người Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam."[1] Nắm chắc được yếu tố người Mỹ sẽ bỏ rơi Miền Nam, Cộng sản Bắc Việt thi hành Chiến Dịch 275 dưới quyền chỉ huy của Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân vừa mới được cử vào Miền Nam.

Vào ngày 10 tháng 3 năm 1975, Cộng sản tung ba sư đoàn 316, 320 và 10 chính quy của Cộng sản Bắc Việt tấn công vào Ban Mê Thuột, nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 23 Bộ Binh của VNCH, tuy nhiên chỉ có một trung đoàn, Trung Đoàn 53, trú đóng chung quanh tỉnh này cùng với một số đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân.

Qua ngày 11 tháng 3, Ban Mê Thuột bị xem như là thất thủ và sau đó th́ những đơn vị c̣n lại của Quân Đoàn II đóng tại Pleiku đă được lệnh triệt thoái xuống vùng duyên hải miền Trung trên Quốc lộ 7B. Cuộc triệt thoái này được xem như là một thảm kịch, Cộng Sản Bắc Việt đă ra lệnh cho hai sư đoàn 320 và 968 liên tục tấn công và pháo kích vào đoàn quân và dân chúng và đến 10 ngày sau th́ hơn ba phần tư quân số của Quân Đoàn II bị tổn thất, trong số gần hai trăm ngàn dân chúng hai tỉnh Pleiku và Kontum di tản, chỉ có khoảng 60 ngàn người về được đến Tuy Ḥa và Nha Trang. Trước việc VNCH bị mất 4 tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, Pleiku và Kontum, Hoa Kỳ không có một sự phản đối nào. Ngoại Trưởng Kissinger đang bù đầu về vấn đề Trung Đông, Tổng Thống Gerald họp với bộ tham mưu của ông để nghiên cứu xem Tổng Thống Hoa Kỳ có thể làm được những điều ǵ có thể giúp cho VNCH mà không vi phạm đạo luật War Powers Act. Ṭa Bạch Ốc được cho biết rằng Hoa Kỳ không thể làm được bất cứ điều ǵ để can thiệp tại Việt Nam, dù là để cứu một số quân đội của VNCH. Tuy nhiên, Hoa Kỳ có thể thuê mướn một số thương thuyền và phi cơ dân sự để di chuyển quân đội và chiến cụ cho VNCH ra khỏi những vùng nguy hiểm cũng như là cứu người tỵ nạn ở ngoài hải phận quốc tế mà thôi.

Giới lănh đạo Bắc Việt biết rằng "thời cơ" đă đến và ngày 19 tháng 3, Bắc Việt đă xua sư đoàn 341 là sư đoàn trừ bị của Bắc Việt vượt qua sông Thạch Hăn hợp lực với hai sư đoàn 324 và 325 chính quy tấn công chiếm tỉnh Quảng Trị trong vùng địa đầu giới tuyến.

Ngày 20 tháng 3, Cộng sản chiếm An Lộc, chiếm Huế ngày 26 tháng 3, Quảng Tín ngày 24 tháng 3, Quảng Ngăi ngày 25 tháng 3 và Đà Nẳng ngày 29 tháng 3 năm 1975

Sau đó đến lượt Quy Nhơn mất ngày 1 tháng 4, Nha Trang ngày 3 tháng 4, Đà Lạt ngày 4 tháng 4, Phan Rang ngày 16 tháng 4 và Phan Thiết ngày 19 tháng 4.

Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Văn Tiến Dũng triệu tập một phiên họp của toàn thể Ban Chấp Hành Trung Ương của trung Ương Cục Miền nam Việt Nam tại Lộc Ninh th́ một người khách th́nh ĺnh xuất hiện, đó là Anh Sáu tức là Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, "Huy chương Nobel Ḥa B́nh năm 1974" và cũng là nhân vật Số Hai của chế độ Cộng sản Hà Nội. Đây là lần thứ tư Lê Đức Thọ vào Miền Nam với tư các là đại diện cho Bộ Chính Trị, trước đó "Anh Sáu Thọ" đă vào chỉ đạo cho Trung Ương Cục vào những năm 1967, 1971 và 1972. Lê Đức Thọ mang những huấn thị cuối cùng của Bộ Chính Trị về việc thiết lập một "bộ tư lệnh đặc biệt chỉ huy cả Trung Ương Cục Miền Nam" để phối hợp các cuộc hành quân tấn công Sài G̣n. Huấn thị của Đảng Cộng sản cử Tướng Văn Tiến Dũng làm Tư Lệnh, Phạm Hùng làm Chính Ủy, hai tướng Trần Văn Trà và Lê Đức Anh làm Tư Lệnh phó. Dĩ nhiên là Lê Đức Thọ có nhiệm vụ chỉ huy toàn thể bộ tư lệnh đặc biệt này, đó là "Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh". Lê Đức Thọ cũng chuyển đến cho các thành viên trong Bộ Tư Lệnh một văn thư của Chủ Tịch Nhà Nước Tôn Đức Thắng nguyên văn như sau: "Các đồng chí phải chiến thắng. Nếu không th́ đừng có trở về."

Ngày 9 tháng 4 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt tập trung 3 sư đoàn 6 , 7 và 341 chính quy tấn công vào thị xă Xuân Lộc. Sư đoàn 18 Bộ Binh của VNCH dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo đă anh dũng chống cự lại những đợt tấn công của địch đông gấp 4 lần. Trung Đoàn 43 Bộ Binh đă anh dũng đẩy lui hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác của địch và đến ngày 10 tháng 4 th́ địch quân vẫn chưa có thể chế ngự được trung đoàn này.

Ngày 11 tháng 4, Cộng quân tấn công Trung Đoàn 52 Bộ Binh ở phía Nam Xuân Lộc, nhưng nhờ có lực lượng Biệt Động Quân và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù tăng cường, cũng như là Không Quân đă liên tục oanh kích nặng nề vào các đơn vị Cộng sản khiến cho địch quân phải rút lui tại nhiều nơi.

Ngày 12 tháng 4, Trung Đoàn 43 đă tái chiếm được thị xă Xuân Lộc trong khi Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đang từ từ tiến chiếm lại từng khu vực do Cộng quân chiếm giữ từ phía Nam thị xă. Trong trận Xuân Lộc, Cộng quân đă pháo kích 10,000 viên đạn đại bác 130 ly vào thị xa, một số lớn chiến xa, 37 chiếc T-54 bị tiêu diệt và kể từ khi mở đầu cuộc tổng tấn công tại Miền Nam, đây là lần đầu tiên quân Cộng sản thiếu đạn dành cho pháo binh và chiến xa v́ bắn quá nhiều . Tướng Văn Tiến Dũng phải cho tăng viện thêm hai sư đoàn 325 và 312 cho chiến trường Xuân Lộc. Dù được tăng viện nhưng Cộng sản cũng không thể chiếm được thị trấn này mà không bị tổn thất nặng nề hơn, Văn Tiến Dũng ra lệnh cho các đơn vị Cộng sản tiến ṿng qua thị xă Xuân Lộc rồi theo quốc lộ số 1 tiến thẳng về Biên Ḥa.

Cho đến ngày 17 tháng 4 năm 1975, chỉ trong ṿng 5 tuần lễ sau khi Cộng sản mở đầu cuộc tổng tấn công tại Ban Mê Thuột, 20 tỉnh và thị xă, gần một nửa lănh thổ Miền Nam bị mất và về phía quân đội th́ 2 quân đoàn I và II tức là một nửa quân đội bị tan ră. Đó là những thất bại quá lớn lao, quá nhục nhă cho Miền Nam Việt Nam và do đó, uy tín của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ngày càng xuống giốc. Từ các tướng lănh trong quân đội, các đoàn thể chính trị cũng như là tôn giáo, từ giới trí thức cho đến giới b́nh dân, nhiều người đă bày tỏ sự bất măn với chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và từ đầu tháng 4 năm 1975, có nhiều tin đồn về một vài âm mưu đảo chánh để loại trừ ông Nguyễn Văn Thiệu ra khỏi chính quyền

Vào ngày 17 tháng 4 năm 1975, Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă phúc tŕnh với Ngoại Trưởng Kissinger rằng "có tin đồn một số tướng lănh đang dự định lật đổ Tổng Thống Thiệu một khi mà Quốc Hội Mỹ bác bỏ đề nghị viện trợ bổ túc cho VNCH. Tôi (Đại sứ Martin) tin tưởng rằng nếu có một cuộc thương thuyết th́ sự hiện diện của Tổng Thống Thiệu sẽ là một trở ngại và trừ khi Ngoại trưởng (Kissinger) không cho phép, tôi dự định sẽ nói chuyện thẳng với ông Thiệu rằng vai tṛ của ông Thiệu trong lịch sử sẽ được nhớ đến một cách tốt đẹp hơn với những thành quả mà ông đă làm, trái lại nếu ông ta c̣n ngồi lại quá lâu th́ ông ta sẽ bị xem như là người đă thất bại, người đă ngăn cản những nở lực nhằm cứu văn phần đất c̣n lại của Việt Nam c̣n có được một phần nào tự do. Tôi sẽ nói rơ ràng như pha-lê với TT Thiệu rằng đây chỉ là ư kiến của cá nhân tôi, như là "một người bạn luôn luôn chỉ muốn nói sư thật" và sẽ kết luận một cách rất khách quan rằng nếu ông Thiệu không làm điều này th́ các tướng lănh của ông sẽ ép buộc ông phải ra đi." Trong ngày 18 tháng 4, quốc hội Hoa Kỳ thông đạo luật về viện trợ quân sự cho tài khóa 1976 trên 3 tỷ đô-la nhưng trong số những quốc gia nhận được quân viện không có Việt Nam Cộng Ḥa. Như vậy có nghĩa là sau ngày 30 tháng 6 năm 1975, dù có c̣n tồn tại, VNCH cũng không c̣n nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa. Đại Sứ Graham Martin sau này cho biết ngày 18 tháng 4 năm 1975 Ngoại trưởng Henry Kissinger đă chỉ thị ông rằng "TT Ford đă chấp thuận để cho Đại sứ Martin đề nghị với TT Thiệu là ông ta nên từ chức". TỔNG THỐNG THIỆU TỪ CHỨC Theo cựu đại sứ Bùi Diễm th́ sau khi ông về đến Sài G̣n vào trung tuần tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă nói với ông rằng: "ông phải nói sự thật với ông Thiệu." Cái sự thật mà Đại sứ Martin muốn nói là ông Thiệu đă hết thời rồi (Thieu was finished) và nếu cần th́ chính ông Martin sẽ đích thân nói với ông Thiệu điều đó, tuy nhiên ông Martin muốn nhờ ông Bùi Diễm vào gặp và nói với ông Thiệu như vậy và yêu cầu ông Diễm cho ông ta biết sau khi đă chuyện với ông Thiệu về vấn đề này . Đại sứ Bùi Diễm không gặp được Tổng Thống Thiệu, đến ngày thứ sáu 18 tháng 4 th́ ông gặp Đại sứ Martin, rồi qua ngày hôm sau thứ bảy 19 tháng 4, lại nói chuyện điện thoại lần nữa với ông đại sứ Mỹ. Đại sứ Diễm cho ông Martin biết rằng ông đă nhắn với TT Thiệu qua Đại tá Chánh Văn Pḥng Vơ Văn Cầm và cả cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, nhưng ông Thiệu vẫn chưa trả lời. Đại sứ Graham Martin nói với ông Bùi Diễm rằng: " Được rồi, như vậy th́ tôi phải đích thân vào gặp ông ta." [1]

Ngày Thứ Sáu, 18 tháng 4 Theo hồi kư của cựu Đại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon th́ tối 18 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin gọi điện thoại cho ông và lần đầu tiên Đại sứ Mỹ đă nói rơ với ông về ư định của Hoa Kỳ đối với Miền Nam Việt Nam. Theo Frank Snepp, tác giả cuốn Decent Interval th́ trong những ngày tháng cuối cùng của Miền Nam Việt Nam, hai ông đại sứ Hoa Kỳ và Pháp đă có những mối liên lạc vô cùng mật thiết. Tác giả cuốn sách này cho biết Đại sứ Mỹ Martin đă ra lệnh phá một phần bức tường ngăn đôi hai ṭa đại sứ và xây một cánh cửa để hai bên liên lạc với nhau mà người ngoài không ai hay biết, đồng thời ông đại sứ Pháp cũng gắn thêm một điện thoại riêng ở trong pḥng à vệ sinh để liên lạc với đại sứ Martin v́ ông không muốn ngay cả nhân viên trong ṭa đại sứ biết việc ông tiếp xúc gần như thường trực với ông đại sứ Mỹ.

Đại sứ Mérillon cho biết hôm đó Đại sứ Martin đă "lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói với tôi rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam". Đại sứ Martin nói thêm rằng "đối với chính trường nước Mỹ, chiến tranh Việt Nam đă chấm dứt ngay sau Hiệp định Paris 1973, vấn đề c̣n lại là giải thể quân đội Hoa Kỳ tại Đông Dương mà thôi". Đại sứ Mérillon tiết lộ rằng ông Martin muốn nhờ đại sứ Pháp làm trung gian chuyển đạt ư muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng và đại sứ Pháp đă trả lời rằng "nếu không có ǵ trở ngại trong việc liên lạc th́ tôi có thể làm thỏa măn điều ông yêu cầu trong khoảng 5 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, v́ phải phúc tŕnh lên chính phủ Pháp cho nên xin ông đại sứ vui ḷng gửi cho tôi một văn thư chính thức ủy thác cho tôi cái nhiệm vụ này". Đại sứ Martin trả lời rằng "điều đó không thể được. Người ta không muốn lưu lại bằng chứng". Đại sứ Mérillon bèn nói với Đại sứ Mỹ: "Như thế th́ kể từ giờ phút này, nước Pháp sẽ đảm nhận vai tṛ tái lập ḥa b́nh cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp." Thật ra th́ việc chính phủ Pháp dính dáng đến t́nh h́nh chính trị tại Miền Nam Việt Nam vào những ngày tháng cuối cùng của VNCH khởi đầu từ cuộc gặp gỡ giữa Phạm Văn Đồng và Đại sứ Pháp tại Bắc Việt hồi cuối tháng 1 năm 1975. Theo Oliver Todd, tác giả Cruel Avril th́ Đại sứ Philippe Richer đến Hà Nội vào ngày 27 tháng 1 năm 1975. Cựu sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh gọi tắt là ENA, tức là bạn đồng môn với Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaing, nhà ngoại giao Richer vốn là tù nhân của Đức Quốc xă trong trại tập trung Buchenwald, cựu sĩ quan trong quân đội Pháp đă từng phục vụ tại Lào và ông ta rất hiểu rơ Cộng sản. Vài tuần trước khi ông Richer đến Hà Nội, Thủ Tướng Cộng sản Phạm Văn Đồng đă nhờ ông Francois Missoffe, sứ giả đặc biệt của chính phủ Pháp tại Á châu, đ̣i người Mỹ phải áp lực để Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải ra đi. Phạm Văn Đồng tiếp đại sứ Philippe Richer lần đầu tiên vào cuối tháng giêng năm 1975 và trong cuộc gặp gỡ này, Phạm Văn Đồng đă nói với tân đại sứ Pháp: " tôi hy vọng rằng ông đại sứ mang đến cho tôi sự trả lời." Đại sứ Richer chỉ trả lời một cách ởm ờ v́ ông không hề nhận được chỉ thị rơ rệt nào của chính phủ Pháp về vấn đề này. Vào ngày 22 tháng 3 năm 1975, trong một bữa tiệc khoản đăi ngoại giao đoàn tại Hà Nội, một cán bộ Cộng sản đến nói với đại sứ Richer: "Thưa ông Đại sứ, Thủ Tướng muốn nói chuyện với ông ngay bây giờ." Trong cuộc tiếp xúc này, Đại sứ Richer đă hỏi Phạm văn Đồng: "Thủ Tướng nghĩ thế nào về "lực lượng thú ba" tại Miền Nam?" Phạm Văn Đồng trả lời: "Nhóm đó là bạn của các ông. Bây giờ th́ t́nh thế không thể thay đổi được nữa, người Pháp các ông phải làm một cái già Thiệu phải ra đi!"  

 

Xem Tiếp Phần 2