Tôi Ðọc "Lối Cũ Chẳng Sao Quên"


Việt Hải, Los Angeles

         
  

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?
(Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Tôi mựơn 4 câu đầu trong bài Chinh Phụ Ngâm Khúc (CPNK) để giới thiệu về tác phẩm của chị Bích Huyền đến với những ai chưa biết về truyện của chị hay cảm thông với ngừơi cô phụ đi tìm xác ngừơi bạn đời bỏ mình nơi rừng sâu Bắc Việt. Tôi đã biết chị như là một nhà văn nữ mà tôi có dịp nghe chị làm điều hợp viên trên ca’c đài phát thanh tại Nam Cali, tôi có dịp đọc tờ Người Việt khi chị nêu lên thảm cảnh những người tù “cải tạo” và những nghiệt ngã mà những ngừơi vợ các sĩ quan hay công chức miền Nam chịu nhiều đắng cay khi miền Nam rơi vào tay giặc Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Cách đây vài hôm tôi đã nhận đựơc sách chị gởi tôi, vì theo lời yêu cầu của tôi, tôi muốn tìm hiểu về những gì liên quan đến trung tá Nguyễn Quang Hưng, một tù nhân bị đầy đi trại tập trung lao động khổ sai và anh đã bỏ mình trong trại giam. Anh Hưng chi’nh là phu quân của chị ta’c giả Bi’ch Huyền.

Tôi đi lướt qua phần giới thiệu của sách, đến chương đầu nói về tác giả với “Những ngày thơ ấu”, phần dẩn nhập về cuộc đời niên thiếu của tác giả tại Duyên Hà, tỉnh Thái Bình với bố mẹ, anh em trong một gia đình ấm êm, hạnh phúc. Những ngày bình yên đó kéo dài không lâu thì chiến tranh bộc phát tàn phá quê hương.

Đến đây ngừơi đọc có thể hiểu tác giả di cư vào Nam, theo học trung học Trưng Vương, sau đó là đại học Sư Phạm trở thành cô giáo và lập gia đình với trung tá Nguyễn Quang Hưng, giữ chức Tham mưu trửơng trừơng Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt.

"Áo nhung trao quan vũ từ đây
Sứ trời sớm giục đừơng mây
Phép công là trọng, niềm tây sá nào”
(CPNK)

Vâng, chính vì ngành anh Hưng đã chọn, CSVN đã kết án anh nặng nề là “thành phần ác ôn, phản động có nợ máu với nhân dân”. Sau khi miền Nam thất thủ anh Hưng cũng như bao quân nhân, công chức của chế độ cũ bị lùa vô trại tập trung lao động khổ sai.

"Những mong cá nước xum vầy
Nào ngờ đôi ngã nước mây cách vời
...
Cớ sao cách trở nước non
Khiến ngừơi thôi sớm thôi hôm những sầu”
(CPNK)

Như bao nhiêu ngừơi cô phụ khác thương nhớ ngừơi bạn đời ở chốn xa xăm, lời hẹn thề ngày mai xum hợp có nhau. Nhớ chồng là nổi khôn nguôi:

"Hôm nay gió bấc trở về
Thiếp đan áo ấm hẹn thề có nhau
Đê’m ngày thiếp mãi ư’ơc ao
Khuê phòng lạnh giá tình nào nhớ mong
Từng đêm gô’i chiê’c chạnh lòng
Thương chàng xa vắng tình nồng khôn nguôi”
(VHLA)

Chương hai “Đừơng ra Vĩnh Phu’ “ no’i về chuyến hành trình ra đất Bắc khi ta’c giả ra thăm chồng ở trại tập trung Vĩnh Phú. Chương này tả về những tệ nạn xã hội, cảnh cướp giựt tại sân ga Bình Triệu, ngừơi soát ve’ tàu hách dịch khi hắn ta mỉa mai những ngừơi đi thăm nuôi cha, chồng hay con bị đọa đầy nơi trại tập trung khiến ta’c giả tủi thân:

“Xót ngừơi lần nỗi ải xa
Xót ngừơi nơi chốn Hoàng Hoa dặm dài
...
Xót ngừơi hành dịch bấy nay
Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi”
(CPNK)

Đất Bắc sau 20 năm xây dựng “cái-gọi-là” chê’ độ Xã Hội Chủ Nghiã, hiện ra trư’ơc mắt ta’c giả là những ngôi nhà cũ nát, nghèo nàn và lạc hậụ Hình ảnh, loa phóng thanh tuyên truyền nhan nhản mọi nơi. Hành trình kế tiếp từ ga Hàng Cỏ tại Hà Nội ta’c giả đổi chuyê’n tàu ra Vĩnh Phu’. Ga Ấm Thựơng là trạm cuô’i cùng, ta’c giả trải qua ngày dài trên chuyến tàu xe hỏa như nỗi cực hinh mà một sô’ thanh niên trẻ trên tàu trêu đùa về ca’i xã hội đâ’t Bă‘c là “Thà làm su’c vật sướng hơn” (trang 41). Những nỗi kinh hoàng trạm ga vì có rệp hoành hành hút ma’u hành kha’ch. Rồi hành trình phải sang bờ sông, thuê phu khuân vác hành lý. Ngừơi dân đất Bắc đáng thương vì họ chịu cảnh đọa đầy bởi những nghịch lý, những mâu thuẫn xã hội, ca’i mà Hồ Chi’ Minh cô’ tình đem ca’i bóng ảo huyền “Thiên đường Xã Hội Chủ Nghiã không giai câ’p, không bóc lột, mọi ngừơi đều bình đẳng”. Thực tế bị bêu rếu bởi những thanh niên miền Bă‘c là: “Việt Nam tham dự Thế vận hội mang về ba cúp: cúp điện, cúp nước, cúp lương thực...” (trang45). Tôi còn nhơ’ những ngày VC mơ’i vào thôn ti’nh miền Nam, ngừơi dân miền Nam có óc khôi hài, chê’ diễu kẻ chiê’n thă‘ng qua nhiều câu diễu cợt dân gian như:
“Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ,
No’n tai bèo che khuất nẻo tương lai”

Hay bài ha’t kích động “Túp lều lý tưởng” đựơc châm biếm, mỉa mai chế độ mơ’i “Ba Vê” bằng ca’ch sửa lời như:

“Từ ngày giặc Mỹ vô đây ta có nhà lầu,
Từ Ngày giặc Mỹ vô đây ta có xe hơi
...
Từ ngày giải pho’ng vô đây ta mất nhà lầu,
Từ ngày giải pho’ng vô đây ta mất xe hơi... “

Ngừơi dân trong nư’ơc khi gửi thơ ra xư’ ngoại quốc phải dùng mật mã, ám hiệu trao đổi vo’i thân nhân ở xư’ ngoài, để ngừơi nhận biê’t y’ ngừơi trong nư’ơc như ngừơi bạn tôi gửi thư sang Mỹ là: “Nhờ ơn cách mạng nên gia đình tôi đựơc khuyến khi’ch đi kinh tê’ mới...” hay ngừơi chị bà con lại viê’t: “Nhờ ơn giải pho’ng nên 3 mẹ con chị co’ ngô khoai ngày hai bữa...”. Ngày xưa gia đình chị â’y râ’t khá giả. Nhưng rồi “Nhờ ơn ba’c Hồ nên trí thức Việt Nam đi đạp xích lô”.

Trang 55 cho thâ’y nỗi đau dặm trừơng của ngừơi đi thăm nuôi râ’t khổ nhọc vựơt cả chiều dài đâ’t nư’ơc để rồi chỉ thăm chồng đựơc năm hay mừơi phút ngắn ngủi, đủ nhìn nhau trong ngỡ ngàng, và chỉ đủ hỏi thăm đôi ba câu xã giao ngựơng ngùng, lạc lõng dư’ơi cặp mă‘t cu’ vọ của bọn canh ga’c tù nhà giam. Rồi những tù nhân bị gọi về ngục cũ trong nỗi bơ vơ, nghẹn ngào của ngừơi vợ từ Nam ra Bă‘c thăm chồng. Như ngừơi cô phụ thuở xa xưa mang tâm thư’c ê chề, nghẹn ngào trong Chinh Phụ Ngâm Khu’c hậu 30 tha’ng 4, 75:

“Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn aỉ ? ...
Nỗi lòng biết tỏ cùng ai ?
Thiếp trông giã biệt, chàng hay thiếp sầu”
(CPNK, câu 4 VHLA)

Chương ba “Cầu bao nhiêu nhịp” nói về đời sống thừơng nhật của ca’c giáo viên bị trù ếm vì có án đen liên quan đến chế độ cũ, vì chi’nh sách xe’t lại, kỳ thị và phân loại của chính quyền mới. Rôi ta’c giả nhận đựơc hung tín trung tá Hưng qua đờị Lại một lần nữa trở ra trại Vĩnh Phú tìm xác chồng, tác giả đi ngang qua nhiều chiếc cầu, rồi nhơ’ câu ca dao ngày cũ trong giây phu’t chạnh lòng:

“Qua cầu ngả nón theo cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu”

Nhìn dòng sông trứơc mặt nư’ơc chảy xiê’t miệt mài trong y’ nghĩ cô đơn hơn bao giờ hê’t, ngừơi cô phụ ôn lại từng kỷ niệm xưa khi vợ chồng khi co’ nhau để rồi mãi mãi xa nhau:

“Dòng sông nước chảy về đâu ?
Cho ngừơi ở lại mang sầu nhơ’ thương
Xa chàng bao nỗi đoạn trừơng
Đêm dài khấn nguyện quê hương yên bình
Để chàng tái hợp gia đình
Ngờ đâu vĩnh biệt tình mình thiên thu...”

(VHLA)

Rồi đừờng đi gập ghềnh, khu’c khuỷu băng qua bao trở ngại đô’i với ngừơi phụ nữ chân yê’u, tay mềm, những chuyê’n đò dọc, đò ngang, những chiê’c cầu khỉ chòng chành, cầu tre lă‘t lẻo thô sơ tửơng chừng nỗi cực hình như Mục Liên xông vào lửa đỏ tìm mẹ. Trong phu’t nhơ’ chồng dù mệt mỏi vẫn lầm lủi câ’t bư’ơc đi tiê’p trong nỗi nhơ’ nhung:

“Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề”

(CPNK)

Để diễn tả nỗi lòng của ngừơi tù như anh Hưng, chị thi sĩ Nam Dao đã viê’t lên những lời thơ ai oán, nói lên những nỗi lòng bùi ngùi, xót xa cho thân phận tù đày nhă‘n gửi về cho vợ con. Bài thơ này được nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc cùng đề tựa “Nếu em nghe qua bài hát này”. Bài hát đã gói ghém trọn những nỗi niềm riêng tư, thầm ki’n nhất mà trung tá Hưng muốn chuyển về Sài Gòn:

"Nếu em nghe qua bài hát này
Thì anh đã khuất theo rặng đường mây
Nếu em nghe những lời giã từ
Thì xin đôi mắt ngưng đọng mùa Thu

Tình anh ao ước trao muôn ngàn gió
Gởi bao trăn trối trong cơn mù xa
Giờ anh thoi thóp giữa gian ngục tối
Nào được thoát ly tâm hồn bay xa...

Nếu em nghe qua bài hát này
Thì em sẽ biết anh không còn đây
Nếu em nghe nốt nhạc rất buồn
Thì xin tha lỗi những đêm chờ mong

Nếu em nghe qua bài hát này
Thì xin em xếp câu chuyện đầu tay
Nếu em đi qua vườn ta ngồi
Mặc cho nắng úa vương trên ngọn cây

Nếu con nghe qua bài hát này
Thì con sẽ biết cha mình là ai
Nếu có đi qua vùng nước lầy
Mộ cha nằm đó trái tim nằm đây

Nếu em nghe qua bài hát này
Thì anh đã khuất theo rặng đường mây
Nếu con nghe qua bài hát này
Mộ cha nằm đó trái tim nằm đây"

(Phan Văn Hưng)

Rồi hình ảnh trung tá Nguyễn Quang Hưng cứ mãi hiện ra từ suốt chiều dài chuyến đi về đất Bắc giam giữ tù nhân, ngừơi cô phụ mắt lệ rưng rưng:

"Nhớ chàng lệ rưng khóe mắt
Tìm chàng lưu đày Việt Bă‘c xa xôi”

(VHLA)

Hỏi ai không chạnh lòng khi người tù nhân phu quân đã gửi về cho vợ con những lời lẽ thương yêu từ nơi rừng sâu hẻo lánh:

“Em yêu,

Những chiều trở lạnh, mệt mỏi, anh nhơ’ em thật nhiều. Anh nhớ từng kỷ niệm, chi tiết tình yêu của vợ chồng mình, thời kỳ hạnh phu’c tại Quang Trung. Đã hơn 3 năm xa nhau rồi, càng ngày càng lơ’n tuổi, nỗi đau bệnh hoạn, không biê’t anh co’ còn sức khỏe về gặp lại em và con không? Hay là ngày ra đi học tập là ngày vĩnh biệt em yêu. Anh còn sống đến nay là vì kỷ niệm, vì em và con. Còn anh chả có gì cần thiê’t, quan trọng cả. Cầu xin Trời cho anh luôn khỏe mạnh khi về gặp lại gia đình, sống hạnh phúc bên em và con...

Mong thaỵ
Hôn em và con.

Hưng”

Đó là bút tích của anh Hưng đựơc in nơi bìa sau của sách. Những lời lẽ thống thiết của những tù nhân bị lưu đày, biệt giam ở ca’c trại tập trung khổ sai nghe như bao tiếng nói não nùng nhơ’ nhung vợ con từ rừng sâu hiểm trở:

”Yêu em như thuở nào,
Tình yêu còn biên đầy trang giấy,
Yêu em như thuở nào,
Tình yêu còn đong đầy trang sách.

Dù biết trái tim đã già,
Mà những thiết tha chẳng nhòa,
Tình cũ vẫn nghe ấm nồng,
Gọi tên nhau lúc cô đơn,
Để nghe sưởi ấm tâm hồn.

Em ơi đây tiếng đàn,
Lời ca dệt ân tình năm tháng,
Câu ca hay khúc nhạc
Tình yêu còn đong đầy khao khát,
Dù có cách xa mỏi mòn,
Mà những dấu yêu mãi còn,
Sưởi ấm xác thân héo gầy,
Tình yêu như gió đem mây,
Gọi mưa giăng kín khung trời

Này em hỡi,
ta mơ ngày sẽ tới,
khi tương phùng,
em khóc cho niềm vui vì hạnh phúc.
Ngọt hay đắng,
trong cuộc đời mưa nắng,
ta luôn cười trong giấc mơ hạnh phúc xưa tuyệt vời

Riêng ta nơi núi rừng,
về đêm càng nghe hồn băng giá,
câu ca hay khúc nhạc,
càng thêm sầu cho tình tan nát.

Dù biết cách xa với đời,
dù biết thủy chung chẳng rời,
mà vẫn xót xa tháng ngày,
chờ ta chi nữa em ơi,
còn đâu giây phút tuyệt vời.”

(Nguyễn Trung Cang)

Tôi liên tưởng lá thơ mang nỗi lòng của của trung tá Hưng “Yêu em như thuở nào” vơ’i bài tình ca đầy xót xa của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang khi lòng ngừơi xao xuyê’n con tim nhơ’ về vợ con, khi lòng ngậm ngùi cô đơn giữa nơi rừng sâu khổ ải:

“Đừơng trần quên lối cũ
Ngừơi đời xa ca’ch mãi
Tình trần khôn hàn gă‘n thương lòng”

(Gửi Gio’ cho Mây Ngàn – Đoàn Chuẩn – Từ Linh)

Chương bô’n “Lối cũ chẳng sao quên”, chương ta’c giả kể về cảnh bốc mộ chồng nơi rừng sâu trong trại giam. Sau cuộc hành trình gian khổ trở lại trại Vĩnh Phu’. Trang 95 kể lại nỗi hãi hùng khi bô’c mộ:
“Trong khi ngừơi thợ cải ta’ng chặt cây cô’i xung quanh, tôi thắp nhang lui cui că‘m trên từng ngôi mô.. Đêm mưa, cỏ ư’ơt, ngửi thâ’y co’ hơi ngừơi, những con vắt nhảy ra, ba’m lấy chu’ng tôi . Máu chảy ròng ròng. Tôi muô’n ngâ’t ngừơi đi vì sơ.. Cây cô’i quang dần. Dầu no’ng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiê’n những chú dế bé tí xíu cũng không da’m nhảy ra nữa”. Trang 97 viê’t tiê’p khi tìm đựơc chiê’c a’o quan:

“Gỗ áo quan dầy và chă‘c. Khi chiê’c nă‘p bật lên, tôi lạnh ngừơi: chiếc chăn len màu đỏ! Suô’t đêm qua, ngừơi anh lơ’n của tôi cư’ chợp mắt là nằm mơ thâ’y xa’c chồng tôi quấn bằng vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc đô.ng. Bóc lựơt chăn len ra là quần ao. Hết lơ’p áo này đê’n lơ’p quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho ngừơi chê’t mang đị Nước mă‘t tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra đất Bă‘c. Chiếc sơ-mi tră‘ng ngà co’ từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến anh du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giầy ba ta..., tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trư’ơc ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.

Tác giả khóc ngất, khóc nư’c nở vì không còn nuôi một chút hy vọng ảo là anh còn sống và còn lẩn trô’n ở một nơi nào đó nữa.

Phân nửa sách khoảng 100 trang còn lại ta’c giả nói về kỷ niệm vơ’i quê hương như chương 5 về Đà Lạt nơi anh Hưng đã nhận nhiệm sở tại trừơng Đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, rồi chương 6 kể về kỷ niệm và cuộc sô’ng vơ’i cô con ga’i Diễm Uyển, chương 7 về chiê’c a’o dài truyền thô’ng Việt Nam “Tà áo dài, nỗi buồn không nguôi... ”, chiếc áo dài quê hương lại vă‘ng bo’ng khi đoàn quân Cộng Sản chiê’m miền Nam trong những năm chi’nh quyền cai trị còn say men chiê’n thă‘ng. Chiếc áo dài đã chia sẻ số phận hẩm hiu vơ’i những cô gia’o miền Nam.

Trang 155 bắt đầu chương 8 “Một thoáng hương xưa Hà Nội đó “. Ta’c giả và cháu Diễm Uyển đựơc giâ’y phỏng vâ’n nhập cảnh Mỹ, rồi lại ra Hà Nội xin giâ’y xuất cảnh. Trang 161 cho thâ’y cảnh hổn độn, vô trật tự của xe cộ lưu thông, sự tham ô, nạn trì trệ hành chi’nh tại Bộ Nội Vụ Hà Nội, trang 163. Giơ’i trẻ miền Bă‘c suy đồi đạo đư’c, trang 169. Những kỷ niệm đẹp đẽ cuả thời mơ’i lơ’n tại Hà Nội đã thay đổi qua’ nhiều tronng y’ nghỉ của ta’c giả. Chương cuối là chương 9 “Anh ơi anh cư’ đợi” no’i về nạn tham nhũng giâ’y tờ xuâ’t cảnh (trang 191), ngừoi dân nuôi hy vọng đựơc xuâ’t ngoại (trang 193). Rồi nỗi thất vọng ê chề vì lời hư’a hẹn hão huyền của ngừơi CS để chờ đợi đựơc ra đi, những mẫu chuyện đời cừơi ra nư’ơc mắt.

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Đọc suốt 200 trang của quyển “Lô’i cũ chẳng sao quên” của chị Bi’ch Huyền cho tôi cảm nhận đựơc những xót xa cho ngừơi dân miền Nam bị cai trị bởi những ngừơi lãnh đạo CS bâ’t xư’ng, tham ô và kiêu căng. Tôi còn nhơ’ tư’ơng Văn Tiê’n Dũng huênh hoang về ca’i “Đại thắng Mùa Xuân” khi chiê’m đựơc miền Nam và cô’ tình bỏ quên đi yếu tố thời cơ, may mắn chiến thắng bằng vũ lực khi Hoa Kỳ chi’nh thư’c bỏ rơi Đồng Minh. Rồi thủ tư’ơng Phạm Văn Đồng của CSVN đã ngụy biện tuyên bố vơ’i các phóng viên Mỹ năm 1976 là chi’nh quyền ông không đánh ngừơi ngã ngựa. Ông cố tình che dấu thâm ý của ngừơi CS khi ép buộc hay lừa gạt các quân nhân, công chư’c Việt Nam Cộng Hoà đi “học tập cải tạo" tốt sẽ đựơc tha về”. Hậu quả la hàng ngàn tù nhân đã bỏ mình trong ca’c trại lao động khổ sai. Sự ra đi của trung ta’ Nguyễn Quang Hưng là bằng chư’ng điển hình cho sự bất nhân bư’c hại tù nhân lao động khổ sai. Ngừơi CSVN không màng đê’n yếu tố thu phục nhân tâm hay sự hoà giải dân tộc đúng nghiã của nó.

Lời kết là nước Mỹ cũng có nạn phân tranh Nam Bắc, nhưng dân tộc Mỹ may mă‘n hơn dân tộc Việt Nam, vì sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ, chính quyền chiê’n thă‘ng miền Bắc đã khôn ngoan trong chính sách hòa giải quốc gia là họ thật sự tha bổng ca’c quân nhân, công chức miền Nam. Họ chỉ giam lỏng vị chỉ huy, lảnh đạo miền Nam. Do đó nước Mỹ đã không có hàng ngàn trại tù hay trại tập trung lao động khổ sai, và nư’ơc Mỹ đã không có hằng triệu nạn nhân chiến cuộc chịu đựng những bất công, đắng cay của cuộc nội chiê’n như chị Phạm Bích Huyền hay cháu Diễm Uyển.


Việt Hải, Los Angeles


Tác Giả Bích Huyền trên trang nhà Mai Ðức Vinh

Ðọc Bài:

Bích Huyền, Người Goá Phụ Oan Khiên Vác Mộ Chồng (Trường Ðinh)