Buổi sáng sớm yên
tĩnh. Gió mát từ khung cửa sổ
nh́n ra vườn mang đến chút hương
trầm-đinh thoang thoảng ngọt ngào.
Cốc cà phê bốc khói. Vị cà phê
Gold-Blend đậm đà quyện
lẫn vị ngọt béo của
sữa-đặc-có-đường. Trên
bàn viết đă sẵn tập
giấy trắng và cây bút-bi đen
viền vàng quảng cáo cho hăng Oracle, c̣n
mới tinh. Tập giấy trinh trắng
chờ đợi. Cây bút sẵn sàng tuôn
mực chất chứa bao lâu nay. Tôi
đang chờ giây phút Huy Cận "sáng
hôm nay hồn em như tủ áo, ư trong
veo là lượt xếp từng đôi".
Vài tháng nay từ khi bạn bè rủ
viết cho Đặc san Phan Châu Trinh,
đă có không biết bao nhiêu buổi sáng
tôi đă chờ như thế. Chỉ
cần những "ư trong veo là lượt"
ấy "xếp từng đôi"
bước ra là tôi sẽ gh́ chặt
lấy mà ghim ngay xuống trắng trinh
tập giấy kia với sẵn sàng bút
mực ấy. Khổ nỗi, chưa bao
giờ những ư ấy lại trong
veo hay chịu xếp từng đôi
cả! Mỗi ư chỉ lấp ló
xuất hiện đơn lẻ,
thấp thoáng như hơi sương mùa
thu, và thập tḥ, e ấp như lá thư
t́nh thứ nhất. Có lúc vẩn vơ
trong trí sau khi đă tắt đèn đi
ngủ, có lúc chen ngang vào suy tính trong
việc làm, lúc nào cũng chỉ lưu
lại chút hoài niệm êm đềm
phảng phất đâu đó rồi
tan biến đi mất. Cốc cà phê
giờ đă cạn, ngày cũng già
đi. "Chả lẽ ôm cầm
chờ đợi măi". Thôi th́
cứ tóm được ư nào lại
ghi ngay xuống, rồi buộc lại sơ
sài những ư tản mạn nầy mà
nộp bài, gọi là đóng góp trong ṿng
khả năng. "Cũng liều
nhắm mắt đưa chân, thử
xem ngọn bút xoay vần đến
đâu".
Khoảng thời gian 1958 -
1965 ấy, thi đậu vào lớp
Đệ thất trường trung
học Phan Châu Trinh đă là giấc
mộng lớn của tất cả các
học sinh tiểu học toàn thành
phố Đà Nẵng và các vùng phụ
cận. Trong khắp thành phố Đà
Nẵng to rộng và phát triển, trường
Phan Châu Trinh là trường trung học
công lập duy nhất, và trong nhiều
năm qua, đă nổi tiếng
khắp miền Trung về những thành
tựu học vấn và giáo dục.
Lứa chúng tôi từ ngôi trường
tiểu học Trần Quốc Toản
nhỏ bé đă có được NV Hưng,
TV Hùng, tôi, HH Thi và có lẽ vài bạn
nữa, đậu vào Đệ
thất Phan Châu Trinh với thứ
hạng khả quan. Đời học tṛ
trung học của tôi đă bắt
đầu thuận lợi như
thế, chan ḥa niềm vui mừng hănh
diện của gia đ́nh, trường
học, bạn bè và cá nhân.
TV Hùng và tôi là bạn thân
từ lớp Ba tiểu học. Thời
ấy, Hùng c̣n ở gần Cổ
viện Chàm, đă có nhiều buổi
sáng, tôi đến rủ Hùng đi
học, rồi đi ngược
chiều lại để đến trường.
Ba má Hùng thương quư tôi như là
một người anh em trai của Hùng.
Ngày ấy, tôi đă được
chia với Hùng rất nhiều thứ,
đặc biệt những trái hồng
ép khô ngọt đậm, tṛn dẹp, có
chút phấn đường trắng, và
đă được xem những nét
khắc kỹ xảo của chiếc
gạt tàn thuốc kim loại có tranh
thủy mặc và bọt nước
nổi bên trong.
Lên đến lớp Nh́
ở trường Trần Quốc
Toản th́ Hùng và tôi có thêm bạn NV
Hưng. Thầy dạy hiền ḥa
khả kính của chúng tôi năm
ấy là ông của người bạn
học xinh đẹp NTP Khánh, sau
nầy là một khuôn mặt và
giọng hát vang bóng một thời Phan
Châu Trinh. Lớp chúng tôi c̣n có HH Thi là
con của Kỹ sư HH Lập, Giám
đốc của trường Trần
Quốc Toản (sau trở thành trung
tiểu học Tân Thanh) và là chủ
hiệu Radio Trung Tuyến. Hưng, Hùng và
tôi tranh đua kịch liệt các
thứ hạng cao nhất trong lớp,
nhưng chúng tôi vẫn là bạn thân
thiết và nể trọng nhau. "Chim
có bạn cùng hót tiếng hót mới
hay, ngựa có bạn cùng đua nước
đua mới mạnh". Cuộc
tranh đua ấy lên đến trung
học vẫn tiếp tục trực
tiếp trong các lớp đệ
nhất cấp Thất 2 đến
Tứ 2 mà chúng tôi học chung lớp,
và gián tiếp ở đệ nhị
cấp khi đă chia qua các ban A và B, cho
đến kỳ thi Tú tài Toàn phần.
Trong suốt bao nhiêu năm học chung
ấy, cho đến cả ngày nay, tôi
tin rằng chúng tôi quư mến và nể
trọng nhau, một phần cũng
nhờ quá tŕnh tranh đua lành mạnh
ấy. Ngày nay, TV Hùng và NV Hưng là
những Tiến sĩ Khoa học có
những công tŕnh nghiên cứu tầm
cỡ.
Các lớp Đệ
thất Phan Châu Trinh là tập hợp
của những học sinh ưu tú
khắp Đà Nẵng và các vùng
phụ cận. Trong mắt những
đứa học sinh mới đến
từ các trường tiểu học
nhỏ bé, th́ đấy là cả
một thế giới mới. Chúng tôi
đă vui thích trong ngỡ ngàng
được tiếp cận với
những điều mới lạ. Khuôn
viên trường trông to rộng hơn,
các ṭa nhà, pḥng học trông to lớn hơn
rất nhiều. Ngay cái thời khóa
biểu cũng đă lạ rồi. Khác
với hồi tiểu học mỗi năm
chỉ học với một thầy cô
duy nhất, từ Đệ thất,
mỗi tiết học thường là
một thầy cô khác. Lại có
những tiết học phải đổi
qua pḥng học khác nữa. Những lúc
đổi pḥng, tha hồ tụi tôi
vừa đi vừa đùa giỡn, cười
nói, như được bước ra
khỏi pḥng học tù túng, căng
thẳng là dịp ưỡn ngực hít
thở không khí tự do. Giờ Vẽ
của Thầy PH Khánh và giờ
Nhạc của Thầy HB Sơn là
những giờ phải đổi pḥng
học như thế. Bây giờ
ngẫm nghĩ lại, tôi hiểu
được rằng chúng tôi đă
rất may mắn được học
với hai bậc thầy của các ngành
nghệ thuật đó.
Thầy PH Khánh dạy chúng
tôi môn Vẽ. Lần đầu tiên, tôi
được tiếp xúc với các
dụng cụ của họa sĩ như
giấy croquis, bút than, bút màu, ... Hoàn toàn
không biết ǵ về Hội Họa, tôi
bắt đầu bằng các bài
học về cách dùng bút ch́, thước
kẽ, tiến dần lên các bài
học về trang trí, các kiểu
đường viền, các hoa văn
trong kiến trúc gothic, Hy Lạp, La Mă,
Trung Hoa : chữ Vạn xuôi, chữ
Vạn ngược; các mẫu chữ
trang trí, cách vẽ h́nh 2 chiều, 3
chiều, vẽ phối cảnh, ... Trong
mắt chúng tôi ngày đó, Thầy có cái
ngoại h́nh của một ông Tây, cao
lớn, da dẻ trắng hồng hào, có
lúc có thêm bộ râu quai nón nữa.
Giống như h́nh ảnh của các
họa sĩ Pháp mà chúng tôi thấy
trong tranh ảnh, Thầy cũng hay đội
mũ béret bằng dạ xám hay nâu. Tôi
nghe nói rằng Thầy đă từng du
học về Hội Họa ở Pháp.
H́nh dáng của Thầy rất ăn
khớp vào khung cảnh sinh hoạt
nghệ sĩ ở xóm Montmartre ǵ đó
của Paris. Thầy Khánh rất
hiền và thương học tṛ.
Thầy đối xử với học
tṛ gượng nhẹ bao dung như
lối đối xử của một
người cha, ông trong gia đ́nh. Tôi
chưa từng nghe, thấy Thầy la
mắng ai bao giờ, mặc dù lớp
chúng tôi cũng không hiếm những
tay phá như quỷ. Giọng nói
của Thầy trầm, ôn tồn, ḥa
nhă. Thầy Hiệu Trưởng, các
thầy cô, thầy Giám Thị đều
kính mến Thầy, một phần v́
Thầy lớn tuổi, phần khác v́
nể trọng sự lịch duyệt,
tài năng và sự ḥa nhă của
Thầy. Học tṛ tụi tôi rất
thoải mái trong giờ học với
Thầy. Cũng có nghịch phá nhưng
không có đứa nào đi quá trớn
đến mức hỗn láo với
Thầy, v́ ai cũng kính nể và thương
mến Thầy. Tôi không nhớ có anh
chị nào xuất sắc về môn
Vẽ không, chỉ nhớ không có ai
bị điểm dưới trung b́nh
cả. 40 năm qua, chắc chẳng có
ai trong chúng tôi thành họa sĩ chuyên
nghiệp, nhưng ai cũng biết yêu
chuộng cái đẹp ḥa b́nh của
tranh ảnh.
Thầy HB Sơn dạy chúng
tôi môn Nhạc. Thầy là tác giả
của bài Hiệu Đoàn Ca Trung
Học Phan Châu Trinh tuyệt vời,
được yêu mến và ghi nhớ
qua bao nhiêu thế hệ học tṛ
của trường. Tôi chưa
được nghe một bài Hiệu
Đoàn Ca nào đầy nhạc tính và
ư nghĩa hơn bài Hiệu Đoàn Ca
Trung Học Phan Châu Trinh, bi thiết mà hùng
tráng, uyên áo như một bài học
lịch sử mà phấn khích như
một hồi kèn thúc quân. Thầy
đi khỏi trường rất
sớm nên lớp chúng tôi là một
trong số rất ít lứa học tṛ
có được vinh hạnh học
Nhạc với tác giả của bài
Hiệu Đoàn Ca. Thầy Sơn hơi
gầy và khuôn mặt hơi nhọn.
Thầy nghiêm nghị, ít cười, nhưng
không khắt khe đối với
học tṛ. Chúng tôi học về các
khoá nhạc, các nốt nhạc, cung,
nửa cung, các dấu lặng, các âm
giai, nhịp 2, 3, 4, hoà âm Do trưởng
và La thứ. Bài hát nhập môn Thầy
dạy chúng tôi là bài Hồ Sen mà
Thầy bắt phải đánh nhịp,
xướng âm và hát :
Do mi sol mi fa sol la sol Do sol si si la sol fa
mi
Mi re do re mi re do sol Re mi fa si do re si do
Đầu làng tôi là hồ sen ngát thơm
Hoa lồng nước lá xanh chen
nhụy vàng
Bướm khoe ḿnh trên cánh hoa hồng
thắm Thuyền thấp thoáng ngoài xa lúc
chiều đưa
Tụi tôi học Nhạc
rất thoải mái, dĩ nhiên không
phải v́ cả bọn đều có năng
khiếu, nhưng có lẽ v́ giờ
Nhạc là giờ duy nhất mà đứa
nào cũng có thể ḥ hét mà không
bị la rầy ! Giờ Nhạc chúng tôi
hát ḥ rất nhiệt t́nh, quá mức
mong muốn của Thầy. Cho đến
nay, tôi chưa nghe nói có ai trong chúng tôi
trở thành ca nhạc sĩ chuyên
nghiệp cả, chỉ biết có
nhiều người đang là ca sĩ
... Karaoke. Dù sao, tôi cũng tin rằng
Thầy Sơn sẵn ḷng tha thứ cho
đám học tṛ, ngày xưa chỉ làm
khổ thính giác của mỗi ḿnh
Thầy, ngày nay đang làm khổ
lỗ tai rất nhiều người
trong nước và ngoài nước.
Hai năm đầu, chúng
tôi được học Việt văn
và Hán văn với Thầy NT Hối.
Thầy dáng người nhỏ, hay
mặc quần áo thẩm màu, và
nổi tiếng có nụ cười ...
đau khổ. Thầy thường có nét
mặt nghiêm nghị, rất ít khi cười,
có lẽ v́ thế nên khi Thầy cười,
nét cười không quen chỉ kéo
lệch môi một thoáng, trông như nét
nhăn mặt. Thầy giảng Việt
văn rất hay, và chữ Hán Thầy
viết cho chúng tôi cũng rất đẹp.
Đến cuối khoá Hán văn,
Thầy bắt đặt câu với
chữ "Hà" là "sao, nào"
tôi nhớ đă nộp câu ngắn
gọn "Hà nhân vô kỵ"
đinh ninh có nghĩa là "Có người
nào mà không nghi ngờ", nhưng không
được Thầy phê, nên đến
nay vẫn c̣n nghi ngờ không biết câu
chữ Hán đầu tay của ḿnh
ấy có đúng hay không. Hiện nay,
Thầy ở Mỹ, hoạt động
tích cực trong lănh vực văn
học. Tôi đă được đọc
tác phẩm "Trong Mê Cung"
của Thầy.
Những năm tôi học
ở Phan Châu Trinh đă có nhiều tác
phẩm văn chương của các giáo
sư trong trường xuất bản,
và cuối năm học, trong phần thưởng
của học sinh thế nào cũng có
vài cuốn ấy. Học sinh chúng tôi
rất tán thưởng và hănh diện
về việc các giáo sư của ḿnh
cũng là những tác giả văn
học nghệ thuật, và quả
thật các tác phẩm nầy đă
phản ảnh được những
tâm t́nh của giới học vấn
địa phương trong hoàn cảnh
xă hội ngày ấy. Thầy TĐ Hoàn
dạy Việt văn đă có tập
truyện "Nỗi buồn ngày tháng
cuơ" với bút hiệu Trần
Nhất Hoan. Thầy TĐ Tăng
với bút hiệu Trần Hoan Trinh đă
có thi tập "Tôi khóc Em cười"
nổi tiếng, cho đến bây
giờ vẫn c̣n được
giới học tṛ của Thầy yêu
chuộng. Bên trong những lời
giảng Toán minh triết, gọn gàng, rành
rọt đến tưởng như khô
khan, vẫn tiềm tàng những tâm t́nh
sôi nổi, thiết tha, ướt át.
Thầy TĐ Quân dạy chúng tôi
Việt văn và Công dân Giáo dục.
Học tṛ thích đến thăm
Thầy để nghe Thầy nói
chuyện về văn chương và âm
nhạc. Bấy giờ Thầy đă
nổi tiếng với bản nhạc
"Khúc T́nh ca Xứ Huế"
với bút hiệu Trần Đại
Mỹ. Những lời ca, âm điệu
áo năo, uyển chuyển ấy sẽ c̣n
măi với Huế như một miền
thùy dương ngơ ngẩn
mỗi hoàng hôn trong niềm
nhớ tiếc những mối t́nh không
được đền đáp.
Văn thơ cũng
rất được ưa chuộng
trong giới phụ huynh học sinh.
Một vị phụ huynh nổi
tiếng là Thi sĩ Thái Can, cũng là
vị Bác sĩ khám sức khoẻ cho
học sinh mới vào lớp Đệ
thất. Đo đạc kích thước
thân thể, thử phản ứng đầu
gối, đặc biệt kiểm
cả bộ phận truyền giống
của nam sinh chúng tôi, làm đứa nào
cũng nhột mà không dám cười v́
Bác sĩ rất nghiêm. Ông là nhà thơ
nổi tiếng toàn quốc, được
nhắc nhở và tán thưởng trong
"Thi Nhân Việt Nam" của
Hoài Thanh, Hoài Chân. Ông để lại
rất nhiều thi phẩm giá trị,
rất tiếc tôi chỉ nhớ
được hai câu "Em về
điểm phấn tô son lại,
Ngạo với nhân gian một nụ cười".
Những năm trung
học của tôi êm đềm trôi qua,
như lời thơ của tác giả nào
đó rất tiếc tôi không nhớ tên
:
"Ôi sung sướng là thời
gian cắp sách
Ôi vui tươi là lúc hăy c̣n thơ
Đời đẹp đẽ như
trong một giấc mơ
Và thắm đượm như một
mùa xuân mới
Có những lúc hồn nhẹ nhàng phơi
phới
Cũng đôi khi nặng trĩu bởi
lo âu
Nhưng một khi bài đă thuộc làu
làu
Lo lắng biến, nhường phần
cho vui vẻ
Ôi những phút đời vô cùng đẹp
đẽ
Những chuyện vui, rồi những
chuyện vui theo
. . . . . . . . . . .
Quên làm sao, tuy dĩ văng xa xôi
V́ đây là những kỷ niệm
của thời
Thời cắp sách, thời vô ngần
trong sạch" . . . . . .
Phần lớn chúng tôi là
những đứa học tṛ chăm
học, kính trọng Thầy Cô, thân yêu
bè bạn. Đời sống học tṛ
ngày ấy c̣n đơn giản. Đồng
phục mỗi ngày đi học : ngày
thường th́ áo sơ-mi trắng,
quần dài xanh, thứ hai là ngày chào
cờ th́ áo trắng, quần dài
trắng. Các chị th́ ngày thường
áo dài trắng, thứ hai áo dài thiên
thanh. Áo sơ-mi bằng vải thường,
hay popeline trắng, quần vải
xi-ta xanh đậm. Hai năm cuối
trung học, tôi mới có được
áo sơ-mi màu, áo ca-rô và quần dacron,
tergal đen để mặc đi chơi.
Có một thời áo đi học có
gắn thêm huy hiệu Hiệu Đoàn
Phan Châu Trinh có h́nh ngọn lửa, cây
viết trên cuốn sách mở ra, c̣n th́
chỉ có bảng tên hoặc tên thêu
chỉ xanh trên túi áo bên trái. Sách
học th́ dùng lại của các anh
chị lớn, hoặc mua ở
khoảng đầu năm học, theo
chỉ thị của giáo sư phụ
trách môn học. Anh em tôi mua sách
phần lớn ở nhà sách Nguyễn
Hữu Uẩn. Những cuốn sách
mới toanh, thơm mùi giấy mới,
mực mới, và hứa hẹn
những kho tàng tri thức. Vở th́
những năm mới vào Phan Châu Trinh,
tụi tôi dùng loại vở ngoài b́a có
h́nh con gà, giấy thô hơi sẩm màu,
mấy năm sau chuyển qua "vở
Xích lô" b́a có h́nh xe xích lô,
giấy trắng và tốt hơn.
Tụi tôi giữ vở cẩn thận,
viết chữ nhỏ để dùng
vở được lâu. Các đề
mục lớn hay các công thức
được đóng khung tô màu khác
nhau cho đẹp và dễ nhớ. Tôi
không nhớ được cái cảm
giác Thanh Tịnh "trong ḷng tôi
đang có sự thay đổi lớn :
hôm nay tôi đi học", chỉ
nhớ mỗi kỳ khai giảng năm
học mới, tụi tôi có nghi
thức lấy giấy bao từng
cuốn sách mới, cuốn vở
mới, dán nhăn vở -ngày ấy c̣n
gọi là ê-ti-kết- rồi khoan khoái
nh́n chồng sách vở mới tinh khôi,
bao mới, nhăn mới, sẵn sàng, như
ḷng ḿnh thật mới, sẵn sàng
đón nhận những kiến thức
mới, cao hơn. Giấy bao vở
những năm đầu trung học là
loại giấy gương -giấy kính-
bóng, trong, màu sắc khác nhau để
phân biệt các môn học. Môn nào thích
th́ chọn màu ưa thích mà bao trước.
Những năm về sau th́ giấy bao
thường là các trang báo Thế
giới Tự do, cũng láng mà không
tốn tiền, lại có h́nh và các bài
viết có khi cũng hay ho. Tôi nhớ
đă đọc đi đọc
lại nhiều lần bài thơ
của Lưu Trọng Lư có những
câu "Mưa chi mưa măi, ḷng
nhớ nhung hoài, mà biết nhớ nhung
ai, trăng lặn về non không trở
lại" trên giấy bao của
cuốn vở Hóa học năm Đệ
tam. Những ngày đầu năm
học cho tôi cảm giác tươi
mới của mọi thứ tinh khôi như
thế, cùng với các bạn học
trở lại trường với
những khuôn mặt hớn hở, hy
vọng và sẵn sàng.
Ngày ấy, bút bi, c̣n
gọi là "bút nguyên tử",
chưa thịnh hành lắm. Đó là
thời mà xe hơi c̣n gọi là "xe
điện", xe đạp là
"xe máy", xe gắn máy là
"xe b́nh bịch" rồi
tiến thêm một bước thành
"xe máy dầu", và máy h́nh c̣n
là "cái bàn h́nh". Tốt
nghiệp xong loại viết lá tre
chấm mực phải thay ng̣i khi
bị rè, tụi tôi đổi sang
viết máy, trong ruột là một
ống cao su bóp lại để hút
mực, từ các b́nh mực hiệu
Pelican, ... Thông thường tụi tôi dùng
mực xanh đen -blue black-, hay xanh đậm.
Một vài bạn đến tuổi yêu
đương như NV Hưng, LH Đức,
và một số đông các nữ sinh,
th́ dùng mực màu tím. Có một
dạo, xuất hiện loại viết
máy Kaolo ng̣i tṛn có những đường
xoắn ốc dẫn mực, cầm
viết bề nào cũng viết
được, nhưng kết cuộc
cũng không phổ biến bằng các
loại viết ng̣i dẹp thông thường,
trong đó "bút Parker" mà
tụi tôi đọc là "Pa-ke"
là được ưa chuộng
nhất.
Các thế hệ cha ông
của chúng tôi, đă phải khổ công
tập tành lối viết cổ điển
đều đặn của các trường
tiểu học Pháp, nên các vị
viết chữ rất giống nhau,
rất đều và rất đẹp.
Đến thế hệ tụi tôi th́
trăm hoa đua nở trên vô số các
lối chữ viết khác nhau. Thầy
Cô tụi tôi không đến nỗi
phải thanh tra chữ viết của
học tṛ, nhưng con mắt mô
phạm của các vị cũng khó mà
tưởng lệ những dạng
chữ viết đi quá xa dạng b́nh
thường ít nhiều mô phỏng
lối viết đều đặn, cân
đối của các thế hệ cha
ông. Bạn NP Duyên thường th́ cũng
chịu khó chăm sóc chữ viết,
nhưng có lần v́ mỏi tay, buồn
ngủ hay thiếu giờ ǵ đó,
đă phóng bút ... tài hoa đến
độ bị Thầy PV Dật
dạy Việt văn hài tội là
"chữ viết như chữ Bác sĩ
kê toa". Tuy thế vẫn c̣n dễ
đọc hơn chữ viết của
NĐ Thống. Tay nầy viết
chữ nhỏ, dạng chữ xáo
trộn không chữ nào giống chữ
nào, những con chữ viết nhanh, như
vết chân cào cào, châu chấu chi chít,
vừa lôi kéo vừa đấm đá
nhau chí choé trên các trang giấy.
NĐ Thống, LH Đức,
L Hân là đám bạn thân hay rủ tôi
đi chơi chung. Trừ mấy năm
cuối bị chi phối bởi
chuyện học thi, và h́nh bóng các cô
bạn gái, c̣n th́ suốt các năm
trung học, hễ có giờ rảnh, ngày
nghỉ hoặc những giờ giáo sư
bận hoặc bệnh không đến
dạy, các bạn nầy và tôi thường
đi đánh bóng bàn và thụt bi-da
với nhau. Mỗi người có
một thủ pháp không ai giống ai,
trong cách đánh, đỡ, xoáy, tiêu bóng
bàn, hay lối cầm cơ, lót tay,
nhắm, thụt bi-da. LH Đức thường
thắng các trận bóng bàn, L Hân là người
cao cơ bi-da nhất đám. Chúng tôi mê
mải trong cái hào hứng của tṛ chơi,
vẻ đẹp của những
đường banh ảo diệu hay vũ
băo, những ép-phê xuôi, ngược trên
mấy trái banh ngà. Chúng tôi đă chia
nhau rất nhiều ly xá-xị, ly chè
ngon ngọt, mát rượi những ngày
hè oi bức, hay những cốc cà-phê
bốc khói, những chén chè ấm nóng
những ngày lạnh lẽo mùa đông.
Chia luôn cả tiền thuê bàn, và
tiền kư sổ ở cô Lan xinh xắn
có đôi mắt hạt nhăn, con ông Ba
Bụng chủ bàn.
LH Đức giỏi
thể thao, thụt bi da điệu
nghệ, và có những cú "tiêu"
bóng bàn vũ băo. Đức lại hào
phóng, có lẽ là người "giàu"
nhất trong đám nên hay đứng ra
chi tiền bàn cho cả bọn. Đức
xứng đáng trong vai tṛ lănh đạo
tụi tôi c̣n v́ anh to con nhất và
tuổi đời lớn hơn các
bạn khác vài tháng. Đức tập
thể dục thẩm mỹ đều
đặn nên thân thể nở nang, các
bắp thịt ngực và cánh tay
nổi phồng lên rất đẹp.
Thật ra th́ tụi tôi đứa nào
cũng đă có lần tập thể
dục thẩm mỹ, chỉ khác Đức
ở chỗ tụi tôi tập không
đúng cách và không đều nên
chỉ nở thêm phần bụng, hay tóc!
Đức to con nhưng hiền hậu,
không dùng sức mạnh để áp
đảo ai bao giờ. Anh là người
can ngăn bạn bè khi có những đôi
co, tranh chấp. Anh xốc vác, hay đứng
mũi chịu sào, sẵn ḷng giúp đỡ
bạn bè. Đức vui tính, có nụ
cười cởi mở, nhiệt t́nh.
Đức hơi hô răng nên hay
lấy tay che miệng khi cười, mà
Đức lại hay cười.
Thật khó quên nụ cười
rạng rỡ của Đức khi
đánh được một cú banh
tuyệt vời! Đức trưởng
thành sớm nhất trong bọn, là người
đầu tiên để ư đến các
cô, và từ đó, sửa soạn
kỹ mái tóc, quần áo và nhân dáng
của ḿnh. Đức người
vạm vỡ mà lại viết chữ
rất nhỏ và đặc biệt
chữ viết của Đức nghiêng
ngược lại với chiều nghiêng
thông thường. Thay v́ ngă chúi về
phiá trước, chữ viết của
anh nghiêng về phía sau lưng.
Nhà Đức ở trong cư
xá Hiến Binh trên đường ra băi
biển Thanh B́nh. Tụi tôi hay đến
rủ Đức đi chơi, đôi
khi thấy Đức đang cử
tạ, ngực trần nở nang sáng bóng
trong ánh nắng, và nụ cười
rạng rỡ. Đức có nhiều em,
em nào cũng có khuôn mặt sáng sủa
và miệng cười tươi
tắn dễ thương.
Tụi tôi không ai hiểu
tại sao Đức lại đăng
lính, và sau khi ra trường, đi
trận và mất rất sớm.
Lớp chúng tôi đă đóng góp cho
cuộc chiến tranh khốc liệt
Việt Nam nhiều người lính. Lê
Hữu Đức đă như Kinh Kha
một đi không trở lại. Anh
đă tử trận ngay trong lúc bạn
bè của anh c̣n mải mê sách đèn bài
vở trong cuộc sống an lành ở
thành phố. Trong chiến tranh Việt
Nam, Lê Hữu Đức đă trở
thành một anh hùng vô danh. Trong tâm tưởng
của bạn bè, anh vẫn là người
bạn tốt điển h́nh của
thời cắp sách, thời của hoa
phượng đỏ và lưu bút ngày
xanh.
Tôi chia sẻ với NĐ
Thống nhiều kỷ niệm học
thi. Trong những tháng học thi Tú Tài
Một và Tú Tài Hai, hầu như tôi có
mặt thường trực ở nhà
Thống trên đường Đống
Đa. Bố mẹ Thống xem tôi như
con cái trong nhà, các em Thống xem tôi không
khác ǵ một người anh ruột.
Ba Thống, bác N Kế, Thầy Giám
thị nghiêm nghị mà học tṛ Phan
Châu Trinh ngày ấy rất nể sợ,
thật ra là người rất
hiền từ, có ḷng với học tṛ.
Tâm t́nh Thầy gắn bó với Trường,
vui mừng khi học tṛ Phan Châu Trinh thành
đạt và buồn rầu khi học
tṛ Phan Châu Trinh vấp váp. Những ngày
tháng học thi ấy, tôi sống ở
nhà Thống, ăn tối, học bài
chung với Thống, hầu như
chỉ về nhà để lấy
quần áo, vật dụng mà thôi. Các
em Thống rất ngoan, học giỏi,
thích nói chuyện, đùa giỡn
với hai ông anh, nhưng cũng
biết giữ yên lặng tuyệt
đối cho pḥng học thi, khi hai ông
anh bắt đầu ngồi vào bàn,
tụng kinh nghĩa. Chuyện học thi
của tụi tôi được xem là
ưu tiên trong những thời gian
ấy. Hai đứa tôi chiếm
trọn một pḥng học, sách vở
đầy bàn, dùi mài kinh sử ở
đấy đến khuya. Tôi suưt
bị lên "ghế điện"
ở đấy, khi chân chiếc
ghế khung sắt tôi đang ngồi,
đè lên sợi dây điện kéo dài
đến cây đèn trên bàn học, vành
chân sắt cắt sâu vào lớp
nhựa bọc ngoài chạm đến
sợi dây đồng bên trong. Cũng
may là tôi chỉ bị một cú
giật nhảy đựng trên ghế
mà thôi.
Nhà Thống ở gần
biển Thanh B́nh nên có gió mát. Buổi
tối, sau khoảng hai, ba giờ vùi
đầu vào sách vở, hai đứa
đi dạo trên đường Đống
Đa, trời trong gió mát. Nhiều hôm
thấy dưới cột đèn
đường sáng trưng có người
ngồi đọc sách, có vẻ cũng
là sĩ tử học thi như tụi
tôi. Không biết đọc sách dưới
đèn đường như thế có
hiệu quả ǵ không, chỉ thấy
có vẻ ǵ lăng mạn, hay hay, hợp
với tuổi học tṛ. Tụi tôi cũng
thử mang sách ra học dưới
đèn đường như thế, nhưng
thực tế là chỉ đọc
đâu được 1, 2 trang sách là
bắt đầu bực ḿnh v́
muỗi cắn hay phù du bay vào mặt, vào
sách, nên đành trở về ngồi vào
bàn học cho chắc ăn.
Sân trước nhà
Thống có 5, 6 cây ổi xá-lị trái
to và ngon. Ngồi học một hồi
mỏi lưng, lại ra leo cây hái
ổi ăn, hoặc ngẩng mặt nh́n
trời qua kẽ lá, cũng thú vị.
Kết quả thi cử của tụi tôi
khả quan, có lẽ cũng nhờ
những yếu tố thiên thời,
địa lợi, nhân ḥa ấy.
Thống với tôi c̣n có
rất nhiều buổi chiều song song
đạp xe xuống dốc Cầu
Vồng, gió thổi phồng áo và bay tóc
phất phới, rất nhiều
buổi trưa qua phà sông Hàn sang mượn
sách Thư viện Sư Đoàn 2 bên
Mỹ Khê, đi suốt con đường
cát biển bỏng chân dưới
nắng chang chang, gió biển luồn qua
những cành thông reo vi vút. Ngày nay, NĐ
Thống là Giám Đốc sáng lập hăng
điện tử Tiến Đạt
rất thành công trong kỹ nghệ âm hưởng
ở Việt Nam.
Với L Hân th́ tôi không
học thi chung, chỉ thường trao
đổi sách vở môn Pháp văn,
Việt văn, Toán, và trao đổi thông
tin về hai cô bạn khác lớp. Nhà L
Hân ở gần sân vận động
Chi Lăng, trong con đường
nhỏ, gần góc đường có pḥng
học mà hai cô bạn cùng lứa
ấy thường có những buổi
học chung. Hân là hàng xóm mà cũng là
bạn trai của một cô, và cô kia th́
giọng Huế uyển chuyển thánh
thót đă gieo những âm hưởng
ngọt ngào trong tai tôi. Hân và tôi
mỗi khi đi ngang góc đường
ấy, lại nh́n qua khung cửa sổ
gần hàng rào không đủ cao,
thấy các cô chăm chỉ ngồi
học với nhau, trông rất dễ thương.
"Em ngồi mở vở nhớ ai,
tóc thơm nghiêng xuống bờ vai th́
thầm" (Thơ Lê Hân). Cho đến
một hôm, bàn học ấy có thêm
một khuôn mặt con trai.
Những vấn vương
thời học tṛ như thế, có
lẽ cậu học tṛ nhỏ nào cũng
có. Huống chi Trung học Phan Châu Trinh
đă nổi tiếng là nơi có
nhiều nữ sinh có tấm nhan sắc
"ch́m đáy nước cá lờ
đờ lặn, lửng da trời
nhạn ngẩn ngơ sa", mà tên
họ đă rủ nhau đi vào ... văn
học sử! Mà cũng v́ rất
nhiều sĩ tử tập trung theo
đuổi các bóng hồng nầy nên
đại đa số những vương
vấn thời học tṛ ấy đă
chỉ là ảo vọng. Biết
thế nhưng vẫn không ngừng
dệt mộng. Có nhiều cậu c̣n dành
nguyên cả một năm Đệ tam
được xem là "năm xả hơi"
kẹp sau năm thi Trung học Đệ
nhất cấp và trước năm thi
Tú tài Bán phần, để nghiền
ngẫm văn chương và chiêm ngưỡng
các cô, thời ấy gọi là đi
"nghễ". Chữ nầy
nghe nôm na như thế nhưng sau
nầy tôi tra tự điển Hán
Việt Thiều Chửu mới biết
đó là chữ Hán, mă Unicode 7768, có nghĩa
là "nghé trông, liếc"! Hoá
ra "nghễ" là một công tác
truyền thống từ đời xưa,
và đến thời chúng tôi lại có
thêm tính văn hoá cao và … nghiêm túc! Ngày
ấy địa điểm cho học
sinh thực hiện công tác "nghễ"
nầy là các hiệu Chè Ngă Năm, Kem
Diệp Hải Dung, các quán xá gần
Chợ Hàn, đường Bạch
Đằng, ... Nói chung th́ có ngắm
nghía bao nhiêu, có trồng cây si cổ
thụ lâu năm đến đâu th́
phần nhiều cũng chỉ một
chiều, chỉ có hiệu quả
phụ là có thêm nhiều người
ham thích thơ văn ngoài chương
tŕnh học. Như có mấy cậu thích
một cô tên Hoàng mà không làm quen
được người đẹp,
hay kháo nhau câu thơ Kiều "nay
Hoàng hôn đă, lại mai hôn Hoàng"
rồi cười khoái chí với nhau.
Cũng may là các cậu ấy thích cô
nầy thấy không đi đến
đâu lại nhảy sang thích cô khác,
mà chẳng ai bị đau đớn
hay thương tích ǵ. Có lẽ cũng
nhờ các cậu thấm nhuần
thuyết Hiện sinh thời thượng
ngày ấy được tung hô trên các
tạp chí Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai
Mươi, luyện cho ư thức về
cuộc đời buồn nôn, không có
ǵ đáng trọng thị cả. Đó
là thời kỳ Thanh Tâm Tuyền, mà Văn
Nghệ Tiền Phong đă nhại
rằng "có người cầm súng
bắn vào đầu, đạn nổ
nhịp ba, không chết". Đạn
nổ nhịp ba vào đầu c̣n không
chết, th́ nhằm nḥ ǵ một bóng
hồng ngoảnh mặt làm ngơ !
Mà đâu phải chỉ
đi "nghễ" mới thấy
được người đẹp.
Đọc sách thấy câu "Thư
trung hữu nữ nhan như ngọc"
- trong sách có người con gái mặt
đẹp như ngọc - đến
khi được LM Trùy cho xem mấy
tờ Playboy, mới thấm thía
rằng cổ nhân nói không có lời nào
sai, quả thật trong sách có những
người con gái thật đẹp, mà
không phải chỉ khuôn mặt mới
đẹp như ngọc mà thôi, ...
Bóng hồng trong lớp chúng
tôi cũng không thiếu, nhưng
phần lớn nam sinh tụi tôi là
đám con nít loi choi, được các
chị xem như em út trong nhà. Vào
tuổi ấy, con gái thường có ư
thức trưởng thành hơn con trai,
nên với các chị bạn cùng
lớp : LTK Cần, LTK Trinh, TT Diệp,
PT Thu, NT Huế, PT An, PT Diên, LB Ty, TN Hoa,
HTN Hoa, ..., chúng tôi chỉ có kư ức
về sự hiền ḥa, dịu dàng,
chịu khó, ân cần của các
chị mà thôi. Dĩ nhiên, các anh
lớn trong và ngoài lớp th́ hẳn là
đă có những t́nh cảm rộn ràng,
tha thiết, dâng hiến, hy vọng hay
tuyệt vọng, ... đối với các
chị bạn trong lớp chúng tôi, nhưng
chẳng ai thèm thổ lộ làm ǵ
với tụi đàn em nầy cả.
Lên trung học đệ
nhị cấp, học sinh phải
chọn các ban : A - Vạn vật, B - Toán,
C - Sinh ngữ. Ban B - Toán chịu
tiếng là khô khan và khó khăn, nên
trong lớp B1 - B Pháp văn sinh ngữ
chính - của chúng tôi năm Đệ
tam chỉ c̣n 4 bóng hồng LTK Trinh, TT
Diệp, NT Huế, PT An, rồi đến
Đệ nhất th́ chỉ c̣n
được một bóng hồng duy
nhất, là chị PT An, hoa lạc
giữa rừng gươm. Chị An
đặc biệt không phải chỉ
v́ thế. Chị học giỏi, xinh
đẹp, ứng đáp thông minh mà
lại không kênh kiệu. Chị
được ḷng cả bạn gái
lẫn bạn trai cùng lớp. Các anh
trong lớp quư mến chị mà không ai
dám sàm sỡ, bởi chị rất nghiêm
trang. Hay có lẽ v́ thời ấy đă
có chàng Tư Mă độc tấu
bản Serenata của Tocelli dưới
khung cửa sổ nhà chị ấy
rồi.
Lên Đệ tam, tôi không
c̣n phải tranh đua với NV Hưng
và TV Hùng nữa, v́ hai bạn nầy
chọn ban A. Tưởng thoát nạn, dè
đâu đụng đầu ngay
với VN Long từ đâu nhảy vào
lớp B1 chúng tôi! Người trông cao
ráo, ít nói, có nụ cười
hiền hậu, điểm nốt
ruồi duyên, ai ngờ lại là
một cây Toán danh trấn giang hồ.
Riêng năm Đệ nhị, Long c̣n là
học tṛ cưng của Thầy NN Thanh
dạy Toán nữa. Năm 2001, tôi liên
lạc được với Long, và qua
Long, với Thầy Thanh. Thầy ở
Mỹ, làm việc trong ngành Tin học.
Thầy đă ưu ái gửi cho tôi
một thư dài đầm ấm t́nh
thầy tṛ, và tặng cho tôi tập
nhạc "Huế Vẫn Ngàn Năm"
của bạn Thầy là Thầy TT Lan
dạy Anh văn ngày trước ở
Phan Châu Trinh, tập nhạc mà Thầy
Thanh đă viết lời giới
thiệu rất trang trọng mà thân t́nh.
VN Long rời Phan Châu Trinh
vào học Đệ nhất ở Petrus
Kư, Saigon, rồi xong Dược khoa, vào
quân đội, và có thời làm
việc ở Tổng Y Viện Duy Tân,
Đà Nẵng, nơi Mẹ tôi đă làm
việc trong rất nhiều năm. Sau
những biển dâu của Việt Nam
trong cuộc chiến, qua nhiều gian lao
cải tạo, vượt biên, khó khăn
nơi xứ người, hiện nay VN
Long là một dược sĩ thành công
và có uy tín ở Mỹ. Cây Toán năm
xưa ấy, nay cũng c̣n là nhà thơ
Vương Ngọc Long - Vương
Hải Đà, đă tŕnh làng vài trăm
bài thơ, tung hoành từ thơ chữ
Hán, thơ tiếng Anh đến thơ
tiếng Việt; từ cổ điển,
lăng mạn đến siêu thực;
từ Đường luật đến
tự do; từ thơ t́nh đến thơ
Thiền thơ Đạo. VN Long c̣n là
nhà biên khảo về dược
học, và văn học, đặc
biệt là thơ cổ Trung Hoa. Có
thể nói VN Long là nhà thơ có thơ
được phổ nhạc nhiều
nhất cổ kim đông tây, với hàng
trăm bài thơ phổ nhạc đă
công bố trên 6 CD, và các trang mạng
toàn cầu. Các CD của Long thường
có in hàng chữ "Thực hiện
: Nhóm bạn Cựu Học Sinh Phan Châu
Trinh & Nữ Trung Học Đà
Nẵng".
Thật ra, Long biết địa
chỉ của tôi mà gửi tặng
tập thơ đầu tay "Dấu
Ngọc Ngà" của Long, là qua anh
ĐV Cho, anh Trưởng lớp thâm niên
của chúng tôi, hiện nay đang sinh
sống ở quê hương của Bill
Clinton.
Anh ĐV Cho sinh ra đời
dưới ngôi sao "Trưởng
lớp". Suốt cả thời trung
học, không ai thay thế nổi anh
trong chức vụ ấy. Ngày ấy,
anh đă là anh lớn của tụi tôi,
anh cao lớn, tóc bồng bềnh
nghệ sĩ, tính t́nh hiền ḥa, thương
bạn và chịu khó. Chức Trưởng
lớp gắn liền với thành tích
và tăm tiếng của toàn lớp. Có
chuyện ǵ xảy ra là các giáo sư
thường nắm Trưởng
lớp trước tiên. Mà lớp chúng
tôi năm Đệ tứ, đă có
chuyện xảy ra thật. Th́nh ĺnh
lớp mất sổ điểm.
Cuốn sổ khổ lớn mỗi
học sinh có một trang ghi điểm
tất cả các môn học theo từng
ngày trong tháng. Cuốn sổ quan
trọng ấy tự dưng biến
mất! Có lẽ trong lịch sử trường
Phan Châu Trinh cho đến năm ấy,
chưa từng có chuyện động
trời như thế xảy ra. Mà
lại nhằm vào năm chuẩn
bị thi Trung học Đệ nhất
cấp trên quy mô toàn quốc nữa. Không
có sổ điểm lấy ǵ để
thẩm định thành tích từng
học sinh? Mà chuyện nầy lộ ra
ngoài th́ uy tín của các bậc giáo
chức cũng bị sứt mẻ. Các
Thầy Cô tập họp tụi tôi
lại, dỗ dành, khuyên răn, cả
doạ nạt nữa, nhưng tha hồ
cho các vị ṿ đầu bứt tai, ḥ
hét khan cổ, chẳng có tṛ nào
tiết lộ điều ǵ khả dĩ
phát hiện được tung tích
của cuốn sổ điểm.
Suốt tháng, lớp tôi bị phạt,
bị bêu xấu trước toàn
thể học sinh trong trường,
bị tra vấn, thôi th́ đủ
thứ căng thẳng thần kinh.
Khổ nhất là Trưởng lớp là
người bị trên đánh xuống,
dưới dộng lên, tha hồ ăn
đ̣n cân năo. Mấy tay mang tiếng
học kém cũng bị soi mói nghi
ngờ. Vậy mà cuối cùng vẫn không
có ai tiết lộ điều ǵ,
học tṛ trong lớp hoặc không
biết ất giáp ǵ, hoặc v́ t́nh
bạn bè liên đới, mà chẳng ai
hé môi cung ứng thông tin nào cả. Ban
Giám học đành chịu thua, sinh
hoạt học hành của lớp chúng
tôi b́nh thường trở lại. 36 năm
sau, anh Trưởng lớp vẫn c̣n
nhớ, khi nhắc lại vụ ấy
lại đ̣i xử tội tên bạn
nào đă giấu cuốn sổ điểm.
Bây giờ nếu biết được
là ai, chắc anh ấy sẽ lôi
thủ phạm ra bắt uống nguyên
một két bia đền tội?
Nghịch phá đến
mức đó chắc cũng đủ
xứng danh "nhất quỷ, nh́ ba,
thứ ba học tṛ" rồi.
Lớp tôi cũng có vài tay nghịch phá,
trong đó có N Đề nổi
tiếng khắp trường. Thật
ra, N Đề chỉ là người hay
giễu, hay trêu chọc bạn bè trong
lớp, làm rối sự im lặng
trật tự cần thiết lúc
Thầy Cô giảng bài, chứ anh không
chơi những tṛ có ác ư. Anh chỉ
hay nói đùa, hay đặt biệt danh,
biệt hiệu bậy bạ cho bạn
nầy bạn kia để cười
đùa vậy thôi. Có lần Thầy
Tiến dạy Lư Hoá mắng anh đại
ư là: cứ đặt tên nầy tên
kia cho người khác, thế tưởng
tên ḿnh không ai đặt bày cho xấu
ra được sao. Thầy phán: "Anh
là Đề, Đề ǵ? Đề
... đốc ấy à!". Học tṛ
cười theo, mà thật t́nh không
hiểu cười chuyện ǵ, v́ có
vẻ Thầy đă ... khen Đề
chứ có chê ǵ đâu! Những năm
Đệ nhất cấp, trong lớp có
những anh cậy lớn bắt
nạt những bạn nhỏ hơn, nhưng
N Đề th́ không thế. Tôi c̣n
thấy nhiều lần N Đề che
chở bênh vực cho những đứa
nhỏ, yếu nữa. Đặc
biệt N Đề có tài nấu ăn
rất ngon. Có một lần cả
lớp đi cắm trại ở băi
biển Mỹ Khê, đội tôi có N
Đề nhận nấu cà-ri gà.
Trời nắng chang chang, trong gió
thổi tung bụi cát, chỉ có
mấy tấm bạt che gió, cát, N Đề
đă cởi trần xoay vần với
mấy cục gạch dựng làm
bếp, luôn tay chặt thịt, cắt
khoai, nấu cà-ri. Mà tô cà-ri hôm ấy
lại là tô cà-ri ngon nhất trong đời
tôi. Có lẽ một phần v́ đợi
lâu và đói quá, nhưng phần
lớn cũng v́ Đề nấu
rất ngon, quả thật danh bất hư
truyền. Chẳng phải một ḿnh tôi,
cả đội gần chục người
ai cũng tấm tắt khen ngon. Mặc
dù ăn xong, lúc rửa nồi th́
thấy cát đọng một lớp dày
dưới đáy nồi.
Cũng tếu mà thân t́nh
với bạn bè là T Liên. Anh là ngôi sao
thể thao trong lớp. Ngày ấy, trong
trường Phan Châu Trinh có sân bóng
rổ mới, và về sau có thêm sân vũ
cầu nữa. Vũ cầu th́ lớp
tôi có Vô địch toàn trường
ĐK Chính và Á địch TV Hùng có năm
đă đại diện trường
Phan Châu Trinh đi thi đấu với
các trường trung học khác. Nhưng
nam sinh tụi tôi th́ hầu như
tất cả đều thích đá banh
và bóng rổ. Có giờ rảnh
chạy ngay xuống sân bóng rổ,
được bạn nhường cho
một cú banh, nhắm nhía rồi "thủ"
một phát lọt vào rổ th́
thật là khoái chí. Lớp tôi có
một đội bóng rổ hùng
hậu, với TN Toàn, VV Bang, BV Đào,
TK Quư, H Phúc, PV Cơ, LH Đức, ... mà
thủ quân là T Liên. Các tuyển
thủ bóng rổ của lớp dĩ
nhiên là được chọn v́ tài
nghệ vượt trội hơn
cả, nhưng không chừng c̣n
được tuyển chọn nhờ
... nhan sắc. V́ người nào cũng
đẹp trai, cả khuôn mặt
lẫn thân h́nh đều rất "bô".
Mà ngày ấy, áo quần bóng rổ
ngắn và bó sát người chứ không
lùng thùng ḷng tḥng như bây giờ.
Bộ áo quần ngắn ngủn, bó sát
ấy làm nổi bật những ṿng
ngực ṿng mông, rất là gợi
cảm, nói theo chữ bây giờ là
"xếch-xi". Quần bóng rổ
ngắn quá nên các tuyển thủ
thỉnh thoảng phải vừa
chạy vừa kéo mép quần xuống
một chút. Động tác vô thức
nầy phổ biến đến
nỗi đă trở thành nghi thức
nề nếp của bóng rổ ngày
ấy. Các nữ sinh thích đi xem và
cổ vũ cho môn thể thao nầy hơn
các môn khác.
T Liên đă là thủ quân
và tuyển thủ rường cột
số một trong đội bóng
của lớp. Anh có những đường
banh dẫn hoa mỹ, những cú "thủ"
bay bướm mà hiệu quả. Đặc
biệt là anh hay giễu trong lúc
luyện tập, hay nói đùa, làm
những động tác hư thực
lừa banh. Chỉ khi nào ra trận
thực sự th́ không đùa nữa,
nghiêm túc và khẩn trương
kiếm điểm cho đội nhà. T
Liên c̣n là một tuyển thủ ṇng
cốt trong đội bóng rổ
của trường nữa.
Đội bóng rổ
của trường có thủ quân là
anh TT Dũng, thần tượng
thể thao của tụi tôi. Anh đẹp
trai, thân h́nh vừa phải, cân đối,
có hơi trắng trẻo. Anh chơi
giỏi nhiều môn: bóng rổ, bóng
đá, bóng chuyền, ..., môn nào anh cũng
là thủ quân của đội bóng
của trường, và môn nào anh cũng
mang số 8. Lớp tôi cũng cung
cấp nhiều cổ động viên
nhiệt t́nh cho các trận thư hùng bóng
rổ, bóng đá, bóng chuyền với
các trường trung học khác. Có
thời kỳ khoảng 2, 3 năm
liền, các đội bóng rổ, bóng
đá của Phan Châu Trinh đă đoạt
được nhiều giải thi đấu
Đà Nẵng, Quảng Nam, và vang danh
ở Huế nữa. Chúng tôi đă la hét
cổ vơ các anh đến mỏi
miệng khan cổ. Chúng tôi đă nh́n
mê mẩn các anh trong bộ quần áo bóng
rổ màu trắng số đỏ,
sắp hàng một chạy ra thành ṿng
tṛn giữa sân chào khán giả. Đă
ḥ hét tung lồng ngực theo từng cú
banh thủ lọt rổ đối phương,
trên sân nhà hay ngay trên sân địch trường
Tây Blaise Pascal hay trường Tàu
Thọ Nhơn. Đă reo ḥ, kêu tên các
anh trong đội bóng tṛn trường
Phan Châu Trinh, những Dũng số 8,
thủ quân kiêm trung phong, Nam số 5
trung ứng, Sung, Niên, Câu, Bền,
Vững, Đĩnh,..., những anh hùng
của chúng tôi trên sân cỏ Chi Lăng,
nơi đă từng đón những bàn
chân thần tượng Rạng, Tỷ,
Vinh, Đực I, Đực II, ...
của các đội bóng vô địch
Việt Nam ngày ấy : Tổng Tham Mưu,
Quan Thuế, AJS.
H́nh ảnh những
thần tượng ấy khuyến khích
chúng tôi yêu thích các môn thể thao
đồng đội. Những giờ
Thể dục, những giờ nghỉ
bất ngờ, chúng tôi kéo nhau ra sân
cỏ, quần thảo những trái banh
lớn nhỏ nhiều cỡ, bằng
da, bằng nhựa, có cả banh
bằng giấy báo cuộn tṛn buộc
dây cao su. Đá banh xong có nhiều hôm c̣n
được các chị nhà gần sân,
như LTK Cần, LTK Trinh, NT Huế, …
cho uống nước giải khát
nữa. Những bạn N Ḥa, ĐV Ḥa,
ĐT Cẩm, NV Diên, TC An, TV Đào, LT Hưng,
LV Kim, ND Kim, NV Kim, NP Hùng, NPK Hùng, Đ
Thiệp, LM Trùy, NP Duyên, … có đá
banh giỏi hay không th́ tôi không nhớ,
v́ tôi chỉ nhớ được cú
banh tuyệt diệu nào mà ḿnh đă làm
bàn thôi, dù có thật hay chỉ là tưởng
tượng. Nhưng ra sân th́ ai cũng
vui thích, và dân chủ. Những
vị-nể trong lớp không c̣n để
ư nữa. Mặc dù trong lớp học
th́ ĐV Ḥa giỏi Toán, LV Kim có
thời rất giỏi Toán nhờ làm
hết cuốn luyện toán Le Bossé, NP
Duyên giỏi Toán và Pháp văn, … Đ
Thiệp nổi tiếng v́ bài
thuyết tŕnh về lịch sử
Đà Nẵng mở đầu bằng
câu: "Đà Nẵng ngày xưa là
một cái vịnh ..." làm cả
lớp cười rần lên, v́ bây
giờ Đà Nẵng cũng vẫn c̣n
là một cái vịnh. Anh hiền lành,
quư mến bạn bè, ai chọc cũng
chỉ cười vui vẻ, không để
tâm giận ai.
LM Trùy thường không
giỏi nhất môn nào, nhưng giỏi
đều, và chiếm hạng cao trong
hầu như tất cả các môn
học. Trùy nghiêm trang, ít đùa nhưng
có nụ cười tươi rất
được cảm t́nh của
bạn. Tôi có cảm tưởng Trùy
thừa hưởng từ người
mẹ đảm đang tính chịu khó,
cần mẫn làm việc, cả trong
việc học hành ở trường và
việc chăm sóc các em Trùy nữa.
Cậu em nhỏ của Trùy tên là Nghĩa
hay bị tụi tôi trêu chọc v́ khuôn
mặt bầu bỉnh trắng hồng
xinh đẹp như con búp-bê, thường
quấn quít bên anh như bóng với h́nh.
Tôi nhớ Trùy thích nhạc và có cây
đàn mandoline đôi khi cho bạn bè
nghe vài khúc nhạc phổ biến ngày
ấy. Sau nầy mới biết Trùy
đă học nhạc với Giáo sư
Phạm Nghệ, và hiện nay là
một nhạc sĩ sáng tác và diễn
tấu tài ba, lại thông thạo
những phương tiện kỹ
thuật hiện đại, kể
cả máy tính, trong quá tŕnh sáng tác
nhạc, cả hoà âm, diễn tấu
nữa. Thành tựu nầy tất nhiên,
v́ Trùy vốn hiếu học, đầy
nghị lực và cần mẫn,
những mục tiêu mà Trùy nhắm
đến đều đạt thành
tốt đẹp cả, như vào trường
Điện ở Trung Tâm Kỹ
Thuật Phú Thọ (nay là Đại
học Bách Khoa), tốt nghiệp Kỹ
Sư Điện lẫn Cao Học Kinh
Doanh Chính Trị.
NP Duyên là tay lí lắc,
hay chọc phá. Trong khi anh họ của
Duyên, NT Phụng th́ ra vẻ nghiêm
nghị. Hai tay nầy giỏi Pháp văn
từ nhỏ, sau một lần biểu
diễn cách phát âm chuẩn của
chữ "la maison", NT Phụng
mang biệt hiệu "la maison".
Phụng hay đi trễ, mỗi lần
vào lớp trễ lại trợn
trừng mắt tṛn to để
chặn trước "pre-emptive"
bạn nào định buông lời trêu
chọc. Do đấy, Phụng c̣n có
biệt hiệu là "vua đi
trễ". NP Duyên th́ lúc nào cũng
dư năng lượng trong người,
tay chân miệng mồm không ngừng
chờ dịp chọc phá, không chừa
lớn bé trai gái ǵ ráo. Ngay cả các
ông bố cũng không thoát. Ngày ấy,
đứa nào cũng cố giấu tên
bố mẹ thật kỹ không cho
bạn bè biết, v́ câu chọc,
chửi nặng nề nhất là kèm tên
bố mẹ vào đấy. Duyên đă
t́m biết và ghép tên mấy ông bố
của bạn thành câu : "Anh Tài
mới kế nghiệp anh Doăn".
Đặc biệt trong đó có cả
tên bố của Duyên!
Thật ra, Duyên là một
trong những học tṛ giỏi nhất
trong lớp. Hay chọc ghẹo nhưng
khi nghiêm nghị th́ cũng nghiêm
nghị ra phết. Duyên và tôi đă có
vài lần tranh luận nghiêm chỉnh
về những chuyện không đùa
được. Như trong khoảng
thời gian có biến động
miền Trung sau biến cố Phật giáo
ở Huế, khởi đầu
những ngày cuối của Đệ
nhất Cộng hoà. Sinh viên Phật
tử ở Huế như Hoàng văn Giàu,
Vĩnh Kha, … phát động phong trào
tranh đấu sôi nổi khắp
miền Trung. Giới học sinh Đà
Nẵng cũng sôi động và phân hoá.
Trong một ngày đ́nh công băi thị
toàn thành phố, Duyên và tôi đă
ngồi lại trường suốt
buổi chiều tranh căi nhiệt thành sôi
nổi về tranh chấp tôn giáo và chính
trị. T́nh h́nh căng thẳng
đưa đến vụ biến
động Thanh Bồ Đức
Lợi, những tranh chấp đẫm
máu đưa đến cái chết
của bạn cùng lớp NT Thiện, người
bạn cao lớn, hiền hoà mà tụi
tôi có lần đă đến nhà
bạn để cùng làm thủ công,
cắt kính làm khối đa giác 8
mặt cho môn h́nh học không gian. Lúc
ấy, Thiện đă là một sĩ
quan vừa ra trường, nghe nói đă
nằm chận lên lựu đạn
sắp nổ, cứu được người
chung quanh. Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc thành lập. Chúng tôi nao
nức chờ đón cơ quan ngôn
luận của Hội Đồng là
tờ báo Lập Trường, mỗi
tuần, và mê mẩn đọc các bài
xă luận nẩy lửa, các bài châm
biếm quyền lực rất sâu
sắc, cay độc của Lập Trường,
đặc biệt là của Cao Huy
Thuần, bào huynh của Thầy CH Hoá
sau nầy dạy Toán chúng tôi.
Nhưng dù tranh căi sôi
nổi đến đâu đi nữa,
Duyên và tôi vẫn không ngừng là
bạn thân thiết của nhau. Trước
ngày NP Duyên rời Đà Nẵng vào
Saigon "du học", LM Trùy, NĐ
Thống và tôi đă đến chơi
với Duyên ở căn nhà gần
biển Thanh B́nh. Tụi tôi kéo một
chiếc ghe bơi ra biển dưới
sự chỉ đạo của
thuyền trưởng Duyên tự ngày
đó đă phát tiết ra anh hoa
Hải quân. Cảm giác bập bềnh
trên sóng nước hôm ấy ḥa
lẫn cảm giác chơi vơi vô
định v́ sắp xa một người
bạn thân vào chốn xa tắp và
lạ lùng. Duyên vào học trong Saigon
đâu một năm rồi lại
trở về Phan Châu Trinh, không biết
v́ con gái đất Saigon khó cua hay v́
con trai đất Saigon khó đua?
Khoảng thời gian
ấy đă bắt đầu có
những tiếng vọng bất
trắc từ những chiến trường
Quảng nam, và chuyện đi lính đă
bắt đầu những ám ảnh
cận kề trong đám học tṛ
học thi "rớt tú tài anh đi
trung sĩ". Một buổi
chiều khi đợi đến
giờ học tiếp, NV Kim kéo tôi ra góc
sân nh́n ra đường Lê Lợi,
đọc cho nghe bài thơ anh mới làm,
lâu ngày tôi không c̣n nhớ ǵ ngoài hai câu
: "Tôi bây chừ đứng im hơi,
dừng chân thổ mộ nghe lời
hoang vu". Đă có những người
bạn cùng lớp mất niềm tin
về tương lai v́ bị vây
bọc thường trực bởi
đe doạ của chiến tranh.
Phải "đứng im hơi,
dừng chân thổ mộ nghe lời
hoang vu" vào lứa tuổi 15 - 17
như thế là một bi kịch
dần dần phổ biến ở
Việt Nam ngày ấy.
Năm Đệ nhị,
lớp chúng tôi thực hiện một
tập Đặc san. Tốn rất
nhiều th́ giờ bàn căi về tên
Đặc san, sau cùng "Niệm"
do LTK Trinh đặt đă được
chọn, có lẽ v́ nhiều ư nghĩa,
và … mơ hồ. Nói là "kỷ
niệm", "hoài niệm",
cũng được, mà lại nghe có
vẻ … siêu thoát. Đối với
tụi tôi lúc bấy giờ th́ "thoát"
hay không c̣n nhờ … Trời, nhưng
"siêu" th́ ai cũng thích, càng
khó hiểu càng … hay, có lẽ do
ảnh hưởng của các bài
viết thời thượng trên Sáng
Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi. H́nh
b́a do hoạ sĩ L Hân phác hoạ theo
mẫu một người đẹp
trong trường, sau đó được
Trưởng lớp cũng là hoạ sĩ
tài hoa ĐV Cho điểm xuyết,
đưa khắc bản gỗ và
chọn màu in. H́nh một khuôn mặt
con gái thanh tú, sóng tóc uốn lượn
xơa dài. Không khác ǵ tóc các chị
thời ấy. B́a in 2 màu đen và cam,
anh ĐV Cho đă làm khổ thợ in
rất lâu mới pha đúng màu ưng
ư. B́a được in tại nhà in Trúc
Mai miễn phí v́ Ông Giám đốc thương
đám học tṛ nghèo nên in giúp. Trang
ruột quay ronéo, có minh hoạ cẩn
thận. Đặc san nầy đă có
đóng góp dân chủ của tất
cả các bạn trong lớp, là tinh hoa
kết tụ của tất cả các (
… ừm) văn thi nhạc hoạ
sĩ lớp tôi. Rất tiếc sau 40 năm
biển dâu, chiến tranh khốc
liệt, chắc chẳng ai c̣n giữ
được kỷ vật quư báu
ấy. Giá c̣n giữ được
một bản để xem lại ngày
trước ḿnh viết, vẽ … như
thế nào, hẳn là thú vị và …
mắc cỡ lắm.
Từ thời hậu
đại học, tôi và L Hân vẫn
giữ liên lạc với nhau. Qua bao nhiêu
năm dâu biển đổi thay, Hân
vẫn là người bạn nặng t́nh
cảm, chịu khó với bạn bè.
Trong con người khoa học kỹ
thuật của một Kỹ sư Nguyên
tử lực, Hân có tâm hồn nghệ
sĩ gia truyền của một thi nhân.
Mới đây, Hân vừa xuất
bản tập thơ "T́nh Thơm
Mấy Nhánh" thơm nức hương
t́nh yêu học tṛ, được các
nhà thơ, nhà phê b́nh thành danh cả người
đọc trong và ngoài nước tán
thưởng.
Qua Hân, từ tháng Giêng năm
2001, tôi liên lạc lại được
với NP Duyên, ĐV Cho, và VN Long.
Tụi tôi cùng nhau lập ra trang
mạng