
Hồi nhỏ, tại Đà Nẵng, nhà tôi ở trên đường Đống Đa, gần Trại nhập ngũ và đường Thanh Bình, lối ra trường Kỹ Thuật. Đối diện với nhà tôi là đồn Quân Cảnh, phía trước là đường rầy xe lửa nên có một khoảng đất trống tương đối khá rộng rãi cho bọn trẻ con cùng xóm chơi đùa. Đám con trai chúng tôi thì chơi “ tạc lon “, “ bắn bi “, “ táng tiền “, chia đội đá banh...Các bạn gái thì chơi nhảy dây, ú tim , đánh thẻ. Ngoài ra, chúng tôi còn tự chế những trò chơi khác và rủ nhau chơi đùa vui vẻ thỏa thích. Hồi nhỏ, tôi cũng như hầu hết các bạn làm gì có trò chơi điện tử như con cháu chúng ta bây giờ. Ở Mỹ, đúng là thiên đường của trẻ con.
Riêng tôi, nhớ lại kỷ niệm những ngày còn bé, tôi lại cho đó là thiên đường của tôi. Lúc đó trong khi chơi đùa, đứa nào trong chúng tôi cũng muốn giành phần thắng về mình. Đứa nào được thì vui vẻ hả hê, đứa thua thì tức giận rồi thôi, hết giận lại chơi tiếp. Thử hỏi đó không phải là thiên đường của tuổi trẻ hay sao ?
Lúc ấy tôi mới lên 8. Trong đám bọn con trai, vì tôi là đứa ham chơi, nên thường rủ rê và đứng đầu nhóm về bày trò chơi. Một hôm tôi rủ Trãi, ở cách nhà tôi hai căn, chơi bắn bi. Chơi thì phải có thắng có thua phải không các bạn ? Vậy mà sau khi chơi xong, Trãi thua tôi gần hết mấy hòn bi mà bạn ấy quý mến, đâm ra giận tôi và rủ “ đánh nhau “. Thế là cả bọn đồng thanh a dua “ đánh “.
“ Oánh “ lúc đó thật là ồn ào, náo loạn. Tôi ốm yếu và nhỏ con hơn, mà lại không được học một môn võ nào, nên tôi đánh không lại Trãi. May sao lúc đó có anh Diên can ra nên tôi không bị đòn nhiều. Về nhà, tôi giận Trãi lắm, quyết từ nay sẽ không bao giờ thèm rủ nó chơi chung nữa.
Nói giận thì giận, nhưng chỉ một tuần sau chia phe đá banh, tôi lại tủ Trãi nhập bọn cùng chung đội với tôi vì thiếu người. Đội chúng tôi thắng trận đó. Sau khi trận banh kết thúc, Trãi cho tôi biết là nó sắp dọn nhà đi nơi khác. Nhờ bố Trãi được thăng cấp Thiếu tá nên gia đình Trãi dọn lên ở cư xá sĩ quan. Khi lên trung học, tôi vào trường Phan Châu Trinh, còn Trãi vào trường Pascal. Kể từ đó, chúng tôi không còn liên lạc với nhau nữa.
Tôi vào học trường Phan Châu Trinh năm 1968. Lớp tôi do bạn Nguyễn Văn Thanh làm trưởng lớp. Lê Quang Thiện đá banh giỏi nên làm trưởng ban thể thao, còn trưởng ban báo chí do Nguyễn Văn Ba phụ trách. Tôi còn có các bạn Nguyễn Thế Hưng, Trần Hưng Thành, Hồ Văn Kỳ Thường và nhiều bạn khác nữa, nhưng đã 30 năm xa cách nên tôi không nhớ hết được. Có thể trưởng lớp Nguyễn Văn Thanh nhớ nhiều hơn tôi.
Lúc ấy, tôi rất ham chơi bóng rổ, nhưng Ba tôi muốn tôi hoàn toàn tập trung thời giờ vào việc học, nên tôi phải nghĩ cách làm thế nào để được chơi bóng rổ sau giờ học. Cuối cùng, tôi nghĩ ra được cách làm Trưởng ban học tập của lớp. Làm trưởng ban gì , chứ cái trưởng ban này là Ba tôi đồng ý ngay. Từ đó, tôi có cơ hội đi đánh bóng rổ với Huỳnh Bá Long, Lê Mùi và những bạn khác lớp. Khi đấu, có lúc thắng, lúc thua, nên thỉnh thoảng chúng tôi cũng “ uýnh lộn “ , nhưng rồi huề, và tiếp tục chia phe đấu tiếp.
Nói về vấn đề học tập, có lẽ nhóm chúng tôi cùng chung một ý tưởng giống nhau : đó là đứa nào đứa nấy đều lấy cớ đi học nhóm để được gặp gỡ nhau thì đúng hơn, trong số ấy gồm có Ngô Đức Hải, Ngô Quốc Long, Trần Hưng Thành, Trần Đại Khánh Ngọc và tôi. Nói là nói vậy thôi, chứ đã là trưởng ban học tập, dầu có ham chơi cách mấy, tôi cũng phải có trách nhiệm vận động anh em học hành, trao đổi bài vở và giúp đỡ lẫn nhau những gì mình không hiểu để hoàn tất bài vở.
Xong đệ nhất cấp, Hải, Quốc Long, Bá Long và tôi tiếp tục học chung lớp 10B4. Năm này nhằm vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tụi tôi bốn đứa rơi vào tuổi đôn quân của chính phủ, nên chúng tôi rủ nhau học thêm lớp 11 ban đêm trường Phan Châu Trinh. Chúng tôi phải học trối chết để dự thi Tú Tài 1. May sao, cuối năm đó, chúng tôi thi đậu, chỉ một mình Huỳnh Bá Long không may thi rớt. Long đăng vào binh chủng Không Quân, cấp bậc Trung sĩ.
Đậu xong Tú Tài 1, chúng tôi rủ nhau ghi danh học trường Phan Thanh Giản. Lúc đó, tôi đã lớn rồi, cần thêm tiền tiêu vặt. Trong khi gia đình tôi lại không khá giả cho lắm. Nhiều khi thiếu tiền mua sách, tôi cũng không dám mở miệng xin gia đình, huống gì là tiêu vặt. May thay, thầy Hoàng Ngân Hà lúc ấy dạy Anh Văn, thấy tôi có khiếu môn này, tưởng đâu môn gì tôi cũng giỏi, nên đã giới thiệu hai người cháu vủa Thầy cho tôi dạy kèm.
Nhờ vậy tôi mới có chút đỉnh tiền xài vặt. Học xong lớp 12 và thi đậu được bằng Tú Tài 2 , Ba tôi định cho tôi ra học Đại học Huế vì sợ tôi vào Sài Gòn chốn đô thị có nhiều chỗ ăn chơi. Với bản tính của tôi lúc ấy, chắc sẽ không tốt nghiệp được Đại Học, một phần lại sợ tốn kém hơn là học ở Huế.
May sao năm ấy anh tôi được bổ nhiệm vào trung tâm Điện Toán ở Phủ Thủ Tướng, nên anh bỏ ý định về dạy học tại Đà Nẵng. Nhờ anh tôi vào làm việc tại Sài Gòn , nên tôi mới được vào học ở đây. Trước khi đi, tôi có ghé thăm thầy Hà và được thầy viết thư giới thiệu đến nhà dạy kèm cho hai cô cháu gái , con người chị của thầy. Nhờ vậy mà ba tôi bớt lo đi một phần tài chánh cho việc học của tôi. Lại một lần nữa mang ơn Thầy, em xin cám ơn Thầy.
Tôi ghi danh vào trường Đại học Phú Thọ, nhưng không phải là một học sinh xuất sắc lúc bấy giờ nên tôi thi rớt. Cuối cùng, tôi phải vào Vạn Hạnh và gặp lại Hải cùng Ngô Quốc Long cũng vào học ở đây. Một hôm tình cờ đang ngồi ăn ở Câu Lạc Bộ sinh viên Vạn Hạnh, thì tôi gặp lại được Trãi ở cùng xóm, cùng chơi bắn bi đá banh với tôi hồi nhỏ. Thấm thoắt vậy mà đã 10 năm hai đứa không gặp lại nhau.
Lúc này thì bọn tôi đã quên hết cái chuyện giận hờn, “ uýnh nhay “ thuở bé, và vô cùng mừng rỡ tay bắt, mặt mừng, rủ nhau đi uống café. Chúng tôi tán gẩu chuyện hồi xưa còn bé ở cùng xóm, ôi thôi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Trãi hỏi thăm tôi liên miên về đứa này, đứa nọ hồi xưa ở cùng trên đường Đống Đa Đà Nẵng. Tôi đã kể từng đứa một cho Trãi nghe và sau đó chúng tôi đã trở thành hai đứa bạn thân thiết nhất.
Học xong năm thứ nhất Phân khoa Giáo Dục Vạn Hạnh 1974, thì chính phủ lại ra thông cáo gia hạn thêm một tuổi cho sinh viên. Hải nhân dịp này ghi danh và đậu vài trường Kiến Trúc, còn tôi thì thi đậu được vào Kỹ sư Công Chánh, nên tôi và Hải bắt đầu lại năm thứ nhất của cái ngành mà chúng tôi ưa thích. Riêng Long và Trãi thì học tiếp lên năm thứ hai ở Đại Học Vạn Hạnh.
Đang học nửa chừng thì tình hình chính trị miền Nam Việt Nam xảy ra xáo trộn liên tiếp. Cọng Sản đánh chiếm Ban Mê Thuột. Đồng bào miền Trung tản cư vào cuối tháng ba năm 1975. Đà Nẵng thất thủ vào cuối tháng 3. Ba Má và hai đứa em gái tôi còn kẹt lại Đà Nẵng. Kể từ đó tôi hoàn toàn mất liên lạc với gia đình ngoài Trung.
Ở Sài Gòn không biết bao nhiêu chuyện lộn xộn xảy ra. Trãi đến tìm tôi và cho biết là bố Trãi có ý định mua tàu dầu ở Vũng Tàu cho gia đình di tản. Trãi rủ tôi cùng đi chung . Lòng tôi phân vân không biết phải làm sao ?
Trong lúc ấy, hỏi ý kiến ông anh có muốn tìm đường ra đi hay không, ông lại nói là có thể trung lập, chắc không sao đâu. Chị tôi đang học năm cuối ở trường Dược, nên bằng mọi cách phải lo học để thi ra trường. Anh và chị tôi nói nếu tôi muốn đi theo Trãi thì cứ đi.
Lúc đó, trước ngõ căn gác trọ tôi đang ở trong hẽm đường Hoàng Diệu, ba, bốn hôm liên tiếp đều có xe Bus đến đón gia đình những người làm việc cho các cơ quan Mỹ vào phi trường để ra đi. Hơn nữa, nhờ theo dõi tin tức và nghe ngóng tin tức café vỉa hè, tôi tin chắc thế nào Mỹ cũng bỏ rơi Việt nam, nên tôi quyết định ra đi. Tôi còn muốn rủ mấy đứa bạn thân như Quốc Long, Đức Hải đi chung, nhưng nhờ Trãi thì ngại, nên tôi nảy sinh ý định rủ tất cả anh em tìm đường ra Phú Quốc để đi, nhưng không ai chịu cả. Gia đình đứa nào cũng còn kẹt ở Đà Nẵng nữa, nên tất cả từ chối. Thế là tôi đành đi theo Trãi ra Vũng Tàu.
Trước khi đi, anh tôi cho $10.000.00 đồng tiền Việt lúc bấy giờ, chị tôi cho thêm $5.000.00 nữa. Trãi và tôi lên xe đò ra Vũng Tàu. Hôm ấy khoảng 24-4-1975 . Ra đến nơi kiếm tàu của gia đình Trãi không thấy đâu cả, chúng tôi đành ở lại nhà mát của ông Bác Trãi (nhà Bố của ca sĩ Việt Dũng). Ở đây được ba hôm thì chúng tôi thấy xuồng của Hải quân vào đón thân nhân của mấy tàu lớn đang đậu ngoài khơi. Lúc ấy tình hình khá lộn xộn , nên chúng tôi cứ nhảy đại lên tàu và được đưa ra tàu lớn đậu sẵn ngoài khơi. May quá lên được tàu lớn rồi thì chúng tôi mới yên lòng.
Từ đó tôi nghĩ là ra đi sẽ không bao giờ có ngày trở lại, không còn cơ hội để gặp lại gia đình thân nhân bạn bè nữa. Ấy thế mà không hiểu tại sao lúc ấy ý chí ra đi của tôi lại mãnh liệt như thế, quên hết tất cả, chỉ biết đi thế thôi, đúng là người con bất hiếu ! ???. Lúc ấy tôi muốn khóc xin Ba Má thứ lỗi cho đứa con bất hiếu này, từ nay ra đi không bao giờ có ngày gặp lại. Lòng tôi quặn đau, nhưng sao vẫn không rơi được một giọt lệ nào , đành câm nín đau khổ cho cái số phận cô đơn của tôi vào lúc ấy. Chiến hạm Hải Quân Công Xưởng 802 đưa chúng tôi sang Summit Bay ở Phi Luật Tân. Chúng tôi được đưa tiếp sang Guam rồi đến trại Fort Chaffee ở Arkansas và cuối cùng thì tôi được người quen bảo trợ ( sponsor ) sang Cali, nơi mà có lẽ thời gian tôi sinh sống còn lâu hơn là ở Đà Nẵng.
Tôi xem đây là quê hương thứ hai của tôi, nhưng cứ mỗi khi nhớ lại những ngày còn chơi chung với đám bạn ở đường Đống Đa Đà Nẵng, là lòng tôi thấy khắc khoải nhớ nhung đến cái thiên đường hồi bé của tôi. Mới thấy là không có nơi nào đẹp bằng Quê Hương mình đã ỡ, và lớn lên, dù nơi đó đã phải trải qua một cuộc chiến quá đau thương vào lúc bấy giờ.
Chuongcom Cali ( 10-21-2002 )
Bài này xin riêng tặng Nguyễn Ngọc Trãi và các bạn trường Phan Châu Trinh niên khóa 1968-1974.
(“ĐS Kỷ Niệm 50 năm thành lập trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, 29 tháng 11 năm 2002 “ )
