ĐÀ NẴNG—NHỮNG BẠN BÈ CỦA TÔI
Thương vô biên những con đường Đà Nẵng
Buổi học về im bóng lá Quang Trung...
Năm 1957, tôi thi đậu vào đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường công lập Phan Châu Trinh, bắt đầu cho những tháng năm miệt mài đèn sách bên thầy cô, bạn bè mà mãi đến bây giờ, dưới lớp bụi thời gian phủ mờ vùng ký ức, có những hình ảnh vẫn còn rõ nét như vừa mới xảy ra ngày hôm qua.
Đệ thất năm đó gồm 4 lớp. Đệ thất một của tôi gồm toàn con gái, họp thành cái chợ, khiến thầy cô nào bước vào cũng đề cao cảnh giác. Không biết tôi có duyên với người di cư hay sao mà năm này, hai nhỏ ngồi bên phải và bên trái tôi cũng đến từ phương Bắc: Nguyễn Thị Bích Lan và Đinh Thị Kim An. Bích Lan nói giọng Hà Nội rất chuẩn, phân biệt t, c (hiểu biết, xanh biếc), có g không g (nghiêng xuống, nghiên bút), hỏi ngã (bỗng nhiên, bổng lộc) rõ ràng. Cho nên mỗi lần đọc chính tả, thầy cô dạy văn thường cho Bích Lan lập lại câu đã đọc, thế là chúng tôi không còn biết sợ sai nữa. Kim An tính nghệ sĩ, thích chép thơ và ngâm thơ, giọng hay không thua gì Hồ Điệp (một nghệ sĩ ngâm thơ lừng danh thời bấy giờ).

(Đinh Thị Kim An)
Nói về bạn tốt, phải nhắc đến Lê Thị Trang, con của ông Lê Ấm, cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh. Tánh nết của tôi và Trang rất khác nhau; Trang đằm thắm, dịu dàng, khép kín; trong khi tôi hiếu động, lanh chanh, ưa chơi nổi như làm thơ đăng báo, dự thi ca hát... nhưng lại rất thân nhau bởi chúng tôi có điểm tương đồng: Sức học ngang nhau và đối xử với nhau bằng sự chân thành. Năm 1961, chúng tôi cùng đậu bằng Thành Chung (tốt nghiệp Phổ Thông Cơ Sở bây giờ), Trang uốn ba tấc lưỡi thuyết phục tôi cùng thi vào khóa Nữ Hộ Sinh, nhưng tôi từ chối. Trước khi ra Huế học, Trang mời tôi ra Ngã Năm ăn cơm gà Hải Nam , có vẻ “dùng dằng nửa ở nửa đi”. Sau đó, hai đứa vẫn liên lạc thư từ cho nhau. Đến 1965, Trang lấy chồng, gửi cho tôi một tấm hình đám cưới, rồi im hơi lặng tiếng cho đến 30 năm sau (năm 1995, tôi về Đà Nẵng và có ghé thăm Trang. Trang đã nghỉ hưu, con cháu đầy đàn).

(Lê Thị Trang)
Nhớ năm mới chân ướt chân ráo vào đệ thất, thầy cố vấn (bây giờ gọi là “chủ nhiệm”) giao cho tôi giữ chức trưởng ban văn nghệ, bao nhiêu trách nhiệm nặng nề đổ trút lên vai, nào làm báo tường, tham gia ca hát... Tờ báo tường năm đó lấy tên là Mầm Non với hai chữ M, N được tôi nắn nót, cọp pi theo các mẫu chữ trong sách dạy thêu. Ban biên tập gồm nhiều người nhưng tôi chỉ nhớ mỗi Bích Lan với bức tranh Hai Bà Trưng do nó vẽ bằng màu nước đầy ấn tượng. Tết năm ấy, thầy lại bắt buộc lớp phải có một tiết mục văn nghệ mừng xuân. Tôi thức suốt ba đêm liền, định viết một vở kịch cho các bạn trình diễn. Viết hoài không được, cuối cùng đành “chôm” ý một vở nhạc kịch của ban Thăng Long trong dĩa hát (Kéo Gỗ Làm Đình). Diễn viên gồm 4 đứa: Tôi và Hồ Thị Hồng đóng vai thanh niên, Bích Lan và Phạm Thị Duyệt đóng vai thôn nữ. Áo quần trình diễn được Thủy Tiên - con gái của chủ nhân Photo Phụng Ký - cho mượn nên không gặp trở ngại gì cả. Vở kịch được các thầy cô tuyển chọn tham gia đêm văn nghệ tất niên. Chúng tôi rất vui, nhất là Duyệt, mừng đến nỗi nhảy nhót lung tung. Con nhỏ này lai Pháp, rất xinh, thật thà và đầy thiện chí. Nhưng cũng vì nó mà tiết mục của chúng tôi bị “bể dĩa” một cách oan uổng. Số là, khi lên sân khấu, học sinh cứ nhắm vào nó mà hét ầm lên: “Tây lai, Tây lai, mười hai lỗ...” làm chúng tôi quên hết cả lời thoại.
Vở nhạc kịch “Kéo Gỗ Làm Đình” của lớp đệ thất 1 trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng trong đêm Văn Nghệ Tất Niên (Xuân 1958)
Từ trái sang phải:Ái, Hồng, Lan & Duyệt.

Lớp tôi có Nguyễn Thị Trân Châu, gương mặt đẹp thanh thoát như Đức Mẹ đồng trinh. Nhớ có lần nó mặc chiếc áo dài màu hoa cà, thế là hai tuần sau, trên báo VNTP xuất hiện bài thơ đề tặng, ký tên V.Y.: “Em mặc áo màu tím, đi trong bụi hoàng hôn, tôi nhìn theo quyến luyến, cô đơn mảnh tâm hồn..”. Trân Châu học rất giỏi nhưng tình duyên lận đận. Năm 1964, nó thi rớt Tú Tài vì gặp phải một cú sốc (người yêu chết). Nói đến người đẹp lớp tôi, còn có Phan Thị Thu Liên và Phan Thị Thu Hà. Thu Liên có đôi mắt đẹp giống Andrey Hepburn, còn Thu Hà mắt một mí giống cô gái Nhật Bản.
Nói chung, các bạn nữ lớp tôi, người nào cũng có nét duyên dáng riêng: Võ Thị Hồng Đóa, Bùi Thị Lệ Hằng, Lê Thị Quý Phẩm, Ngô Thị Kim Oanh, Hồ Thị Bán, Đặng Thị Thành, Châu Thị Yến Loan, Nguyễn Thị Lạc Giao, Phạm Thị Quỳnh Chi, Bùi Thị Hồng, Lưu Thị Lựu, Đào Thị Thái... sau đó xuất hiện một gương mặt mới có nhan sắc của nàng Thúy Vân: Hoàng Bích Quân. “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” của Quân đã dấy lên hai nguồn dư luận, kẻ khen người chê. Riêng tôi, tôi thấy Bích Quân rất dễ thương nhờ có làn da trắng hồng, li ti những đường gân máu trông như cánh hoa xuân... Lên đệ lục (lớp 7 bây giờ), phân ban sinh ngữ, nam nữ học chung nên vở kịch Hòn Vọng Phu của chúng tôi năm đệ tứ (lớp 9 bây giờ), có sự tham gia của bạn Nguyễn Văn Khánh. Ngoài ra, tôi còn nhớ một số bạn nam khác như Vương Ngọc Hà, Nguyễn Hữu Lân, Trần Duyệt Tảo, Phan Xuân Tứ, Cao Ngọc Trảng... với biết bao điều muốn nói, bao kỷ niệm buồn vui của một thời áo trắng - lứa tuổi đẹp nhất đời người.
Sau kỳ thi Tú Tài (1964), chúng tôi như những cánh chim trời tung bay bốn phương.
Thôi xin giã từ mây trời thành phố
Hàng me nghiêng nghiêng ôm bóng Bạch Đằng
Mai này xa xôi vọng về quá khứ
Ghế đá ngậm ngùi tâm sự giá băng...
Trên những chặn thời gian của cuộc đời, tôi đã gặp lại một số trong những người tôi đã nhắc đến tên trong bài viết này. Năm 1968, tôi gặp Thu Hà ở trường Dược Sài Gòn, Hà nói chuyện rất vui và cởi mở, không còn trẻ con như ngày xưa nữa. Cùng năm đó, tôi gặp Phạm Thị Duyệt cũng tại Sài Gòn, nó đã có chồng người Phi Luật Tân; năm 1970, tôi gặp Bích Quân ở chợ Bến Thành, nó khoe vừa sinh con gái đầu lòng (sau này, thấy cô hoa hậu Lý Thu Thảo có gương mặt hao hao Bích Quân, năm sinh cũng trùng hợp, tôi nghi cô ta là con của Bích Quân. Nhưng hỏi lại thì không phải);

(Bích Quân)
năm 1971, tôi gặp Lệ Hằng ở tòa soạn báo Tuổi Hoa, lúc này đang nổi tiếng như cồn với những cuốn tiểu thuyết trữ tình: Thung Lũng Tình Yêu, Mắt Tím, Tóc Mây.. đến năm 1982, tôi lại gặp Hằng đang công tác tại Xưởng Phim Tổng Hợp Thành Phố, hai đứa qua lại thăm nhau luôn cho đến ngày nó được con bảo lãnh ra nước ngoài;
(Lệ Hằng)
năm 1972, về Đà Nẵng, tôi gặp Bích Lan đã có 4 con, Hồ Thị Hồng góa bụa, Lưu Thị Lựu, Yến Loan hiện đang dạy học, Kim Oanh bán kim khí điện máy ở chợ Cồn; Hồ Thị Bán làm nữ hộ sinh, chính Bán đã đỡ cho tôi cháu đầu lòng vào năm 1973; năm 1976, tôi gặp Đặng Thị Thành làm giám hiệu một trường cấp I, Nguyễn Hữu Lân hành nghề bác sĩ tại nhà. Trong số bạn bè cùng lớp, chỉ có Đào Thị Thái cùng tôi lên đại học, ra trường, cùng viết cho tủ sách Tuổi Hoa, Áo Trắng, Tuổi Hồng... với bút hiệu Kim Hài, cho đến bây giờ vẫn còn gặp nhau.
Trải qua bao sóng gió cuộc đời, người thành đạt - kẻ không gặp vận may, người còn ở Việt Nam - kẻ sống đời lữ thứ... thời gian vẫn không tha một ai. Tất cả chúng ta, giờ tóc đã không còn xanh, da đã không còn thẳng, hãy ngồi lại với nhau cùng nhớ về những ngày xưa...
Thùy An
Viết xong 14-8-99
Ý Kiến Bạn Đọc (2)
...
Nho truong cu
Co ai ve lai truong Phan-Dum toi nhan goi muon ngan nho thuong -Truong toi co may hang duong -Cung nhieu phuong vy che truong nang mua -Gio day nho lai ngay xua-Cung Thay cung ban som trua hoc hanh -Nhung mong som duoc thanh danh-Vui long cha me biet cong Co Thay-Nao ngo van nuoc chang may -Chung con troi noi dang cay tram be -Dua rung ru dua ve que-Dua thi vuot bien e che xot xa -Truong toi nay chac da gia -Nhin dan con tre tho ra dau long -Truong oi con van hang mong -Ngay ve truong cu non song sang ngoi -Chung con om chat lay truong -Hon len mai ngoi nho thuong ngan lan (Le van can, trich trong "Mot thoi de nho " cua chinh tac gia )




























