Trong ký ức của tôi, thuở còn đi học là quảng đời thân thương đầy ắp những kỷ niệm hồn nhiên, vui nhiều buồn ít và chứa chất biết bao cảm xúc mỗi khi nhớ lại hay được nhắc đến.
Đã nhiều lần tôi thấy hình ảnh của chính mình ngày nhỏ, xúng xính trong bộ đồng phục còn thơm mùi vải mới, nũng nịu theo mẹ cha đến trường, trên tay là chiếc cặp da hăng hắc, ngơ ngác nhìn những vạt nắng vàng trên đường….thấy mình như thể hằng năm lại chung vui với các cô, các cậu bé tíu tít trong mùa tựu trường.
Những cành phượng đỏ trổ hoa, đám ve kêu inh ỏi….đôi khi đã làm tôi bồn chồn nhớ đến sân trường, lớp học,dãy bàn cùng với bạn bè nhiều lần nôn nao chờ đợi ngày bãi trường để lòng rộn lên niềm vui :sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết.
Hay những khi bất giác được nhìn thấy đám hoa soan bay trong gio, dẫu ở một nơi nào không phải quê nha, mà cũng tưởng chừng như đâu đây mùi thơm ngai ngái của cây sầu đông đưa tôi về lại đầu ngõ cũ ,căn nhà xưa của cả đám bạn bè đi học thường tụ tập, và để lại nhớ đến từng khuôn mặt, giọng nói ,tiếng cười, màu áo và những bài thuyết trình mà cả bọn bàn soạn.
Bạn bè ngày xưa đó, chừ đã lớn tuổi nhưng mỗi khi có dịp gặp nhau, chuyện trò ôn lại những kỷ niệm của thời đi học vẫn dành nhau nhắc trước, dành nhau nói những chi tiết.., sâu đậm và rõ rệt nhất vẫn là những ngày tháng ở bậc trung học, vì có lẽ đã chia xẻ với nhau nhiều hơn cả. Dạo tiểu học thì ngây thơ bé dại quá, mà lúc lên đại học thì bận rộn không có nhiều giờ, nhiều dịp để gần gụi hay họp mặt nữa.
Bảy năm nơi trường cũ Phan Châu Trinh thân yêu cho tôi nhiều người bạn, mỗi bạn để lại những kỷ niệm riêng.
Nhớ năm đệ thất, niên khoá 1957-58, ngày khai trường mừng có Thu Liên bên cạnh (cũng như những năm sau ở Phan Châu Trinh). Giữa một rừng bạn mới nhận ra Võ thị Hồng Đoá, bạn cũ của lớp ba ở tiểu học Huế. (Mười mấy năm sau, khi cả hai đã ra đời làm việc ,vui mừng gặp lại ở Nha Trang một Hồng Đoá đầy hạnh phúc ,và vẫn thân ái như ngày xưa) .
Chỉ tuần sau, chút bỡ ngỡ buổi ban sơ giữa đám trẻ 11, 12 tuổi tan biến đi lúc nào không hay. Ngoài Hoàng thị Mộng Thu, người bạn nhỏ ngày đầu tiên, cười cười, đến kéo lại ngồi cùng bàn, đã có thêm nhiều bạn mới. Nguyễn thị May, dù khác lớp, nhưng sáng nào cũng đến rủ Thu Liên và tôi cùng đi học. Tan trường, lại có Tôn Nữ Bích Yến để tha hồ vui chuyện mỗi ngày trên một quảng đường về chung của con đường Thống Nhất, rợp bóng mát với những cây kiền kiền chạy dọc hai bên lề đường.
Năm này, trường còn chia riêng các lớp nam, nữ. Đệ thất 1- lớp toàn con gái- (đông quá nên một số ít được xếp qua lớp nam sinh) nghịch ngợm không kém chi con trai (theo lời Cô Kim Đính). Tuy nhiên, cũng có vài bạn từ ngày nhỏ đã dịu dàng, và rất con gái như Nguyễn thị Trân Châu, Nguyễn thị Kim Khánh v.v….chứ không phá phách đùa dỡn như đa số. Dần dần trong lớp, bắt đầu có những người hợp ý kết thành những đôi bạn thân hay những nhóm chơi chung như Lê thị Hỷ, Đinh thị Kim An (có giọng ngâm thơ cao vút), Nguyễn thị Em, Thu Liên, Hồng Đoá v.v.....(Em còn chung với Thu Liên và tôi niềm vui, nổi hồi hộp của những mùa thi ngày ở một phân khoa, và khó quên nhất là lần cuối gặp nhau cùng lo âu giữa một Sài Gòn hốt hoảng của tháng 4, 1975).
Nửa niên khoá, chia tay với Lê quang Thục Nhi khi bạn nhỏ theo gia đình đổi vào Bồng Sơn (và trở lại Phan Châu Trinh sau đó, nhưng hình ảnh còn lại rõ rệt hơn cả là một Thục Nhi của ngày đệ thất).
(Lê quang Thục Nhi)
Kỷ niệm vui của năm học này là trại Hè ở Lăng Cô với trường, sáng đi sớm chiều về, và lần du ngoạn Kỳ Lam đầy kỳ thú, đi bằng xe lửa, với Thầy Lê văn Nhân và cả lớp, để xem tận nơi các giai đoạn làm đường từ mía. Khoảng đường ngắn, trên dưới nửa giờ tàu chạy, nhưng sao ngày nhỏ hồi hộp tưởng chừng như được đi một nơi nào xa lắm!
Đến niên khoá kế tiếp (1958-59), chương trình học thay đổi, các lớp đệ nhất cấp bắt đầu chia thành hai ban Pháp và Anh Văn, và cũng từ đây, nam và nữ sinh học chung.
Sĩ số trong lớp thường đông, từ 90-95, phía con gái ít và chiếm khoảng bốn, năm bàn trên của dãy tay mặt. Năm này, bàn đầu con gái chỉ có bốn trò, trong khi bàn đầu bên kia con trai sáu người. Mấy Thầy, Cô khác hình như không để ý, ngoại trừ Cô Liễng (bà Trần Ngọc Liễng), một hôm thấy mấy cậu, vì bàn chật, ngồi viết cứ thúc nhau, bắt Phạm Ngọc Chấn qua ngồi ngay bên cạnh.
Mấy cậu bàn đầu còn lại thích chí reo:
-A! Chấn phải ngồi bàn với con gái!
Cô la ngay:
-Con gái, con trai chi! Bạn bè một lớp là như chị em trong nhà!
-Ha! ha! CHỊ EM!!!
Một tràng cười khác lại nổi lên, trong khi Phạm Ngọc Chấn mặt đỏ tía tai! Hết giờ, Cô Liễng vừa ra khỏi lớp, Chấn phóc ngay về chỗ cũ như thể được thoát nạn!

(Phạm Ngọc Chấn)
Năm này, mỗi lần viết dictée xong là hai bàn trao đổi vở để kiểm soát lỗi. Lần nào gặp phải Nguyễn văn Quảng chấm là bị fautes lu bù; vì Quảng hay nghịch phá thường thêm những chữ s nhỏ tí ti hoặc cho thêm e muet vào những nơi không đúng chỗ. Để rồi khi đem vở lên giải thích với Cô giáo, nhìn xuống thì thấy bạn Quảng lăn ra cười!
(Nguyễn văn Quảng)
Sau vài tháng đầu của năm đệ lục, buồn buồn khi Lê thị Quý Phẩm, người bạn ngồi bên cạnh, đổi ý chuyển qua ban Anh Văn.Cũng thời gian này, tôi gặp Đoàn thị Tường Vi. Như có cái duyên tự kiếp nào (?) khiến đôi bạn nhỏ lúc mới gặp đã thấy hợp và thân nhau ngay. Tuy khác lớp, nhưng giờ ra chơi hai đứa bao giờ cũng tìm nhau. Những ngày nghỉ lễ hay chủ nhật, Tường Vi thường đến vào những lúc tôi trông đợi nhất. Chưa hết năm học, bạn mất, vô cùng đột ngột. Tình bạn, dẫu rằng chỉ vài tháng ngắn ngủi, đã để lại cho tôi nhiều thương nhớ.
Hồi đệ lục, cũng là ngày mới biết đi xe đạp. Dù mùa Hè trước đã tập nhưng vẫn chưa được rành lắm. Nhớ hôm đầu tiên, đạp xe đi học, đến khoảng gần trường gặp Thầy Phạm Hữu Khánh, dở nón chào Thầy và té cái rầm! Nhưng đến kỳ đi du ngoạn Tiên Sa, với Thầy Nguyễn văn Quảng và cả lớp, thì đã có thêm một tí kinh nghiệm.
Năm đệ ngũ, giờ Việt văn của Cô Ngô thị Như Hà hay có những cuộc tranh luận. Mỗi lần như vậy là Tôn thất Toản, theo ban Hán tự (?), thường đưa ra những điển tích xa xưa mà bọn tôi khi nghe tựa như vịt nghe sấm!( Hai mươi mấy năm sau, ở Montréal lần đầu gặp lại người bạn cùng lớp ngày xưa , nay là Thượng Toạ Tịnh Đức, trong chiếc áo vàng chân tu vẫn vui vẻ, cởi mở nhưng bạn bè cũ đều tự thấy phải kính nể).

(Thượng Toạ Tịnh Đức)
Đáng nhớ nhất của niên học này là trại Hè cuối năm với toàn trường, ở đồi thông Mỹ Thị, gần chùa Non Nước. Lần đầu tiên được đi cắm trại qua đêm xa nhà, bạn bè rộn ràng bàn bạc trước nhiều ngày…Tất cả như làm tăng thêm nổi vui và nao nức. Chỉ tiếc Thu Liên đau, không cùng đi được. Tụ tập ở sân trường và khởi hành từ sáng sớm, nên khi tới nơi, hãy còn bình minh. Hầu hết trong đội con gái đều lần đầu đi trại, nên cả bọn đặt tin tưởng nơi Ngô thị Kim Oanh, người từng có nhiều kinh nghiệm trại với đoàn Phật tử. Nhưng rồi loay hoay mãi cả giờ vẫn chưa dựng được lều. Nắng bắt đầu lên cao, Kim Oanh, (một con én không làm nên mùa Xuân?), cũng bắt đầu bớt dịu dàng khi điều khiển bạn bè! Nhìn quanh các đội khác đã lo trang hoàng trại hay có đội đã bắt đầu nhóm lửa v.v… trong khi lều của bọn tôi cứ dựng lên thì lại sụp xuống! Đội Hướng Đạo của trường đi qua thấy vậy, đến giúp, trong giây lát bọn tôi có cái lều chắc chắn nhất! Vui mừng khiến những hờn dỗi vì bất đồng ý kiến lúc dựng trại vụt tan biến, rồi lúc đó cả bọn mới để ý nhìn thấy một cái nghĩa địa lớn ở dưới chân đồi! Nhưng không sao, các trại con gái đều ở giữa, bao bọc chung quanh là trại của con trai, cảm tưởng như được che chở.
Chiều xuống, hồi hộp đợi tối đến với đêm lửa trại..Cả trường ngồi thành một vòng tròn lớn. Chương trình văn nghệ hay và dài, cùng ngọn lửa trại ở chính giữa toả cho hơi ấm khi đêm bắt đầu khuya. Sau một ngày sinh hoạt vui nhiều và cũng mệt nhiều, nhưng tối đó tôi đi vào giấc ngủ thật nhẹ nhàng, bên tai còn nghe văng vẳng tiếng hát đầm ấm của Nguyễn thị (?) Mùi:
..Chập chùng trước mắt là ánh lửa soi,
Chập chùng sau lưng là non, là núi..
..Đời người thanh niên là ánh lửa soi,
Lửa đời đốt cháy buồn bã sầu ai..
.. Lửa hồng ơi..
Ngày hôm sau, buổi chiều trước khi nhổ trại ra về, nhìn cái nghĩa địa dưới chân đồi không còn chi đáng sợ nữa, mà trái lại, thấy như quen thuộc với nơi chốn của lần chơi trò chơi tập thể với toàn trường, nhờ bảng Morse để tìm ra một vật được dấu sẵn ở tấm bia của ngôi mộ vàng.
Lên đệ tứ, ngoài những đôi bạn thân như Phạm Ngọc Chấn có Đinh văn Thìn như hình với bóng, Nguyễn thị Aí có Bích Lan, hoặc Đặng Kim Hùng có Lê Văn Chơn khắn khít từ ngày đi học cho đến lúc vào quân ngũ v..v.., sau mấy năm học chung, dần dần bạn bè một lớp cũng thân nhau hơn. Nhớ lần đi du ngoạn bãi biển Mỹ Khê, nhằm một hôm trời âm u và đạp xe ngược gió, mệt nhiều, nhưng vui nhiều và tất cả đều tươi cười như trong tấm ảnh kỷ niệm mà Phạm thị Duyệt, từ Paris gởi cho lại, ba mươi mấy năm sau...

(Phạm thị Duyệt)
Đầu niên khoá này (1960-61), Hoàng Thu Hồng từ Sài Gòn ra, mặc áo dài thắt eo hết cỡ, bạn bè trong lớp đặt ngay biệt hiệu Hyperbol ! Thu Hồng vui tánh, thường làm cố vấn trang điểm cho bạn mỗi khi cả bọn rủ nhau đi chụp ảnh chung. Còn nhớ Thu Hồng có thói quen hễ gặp hoa nào nhiều cánh li ti thì cũng thích rức từng cánh để bói (?): il m’aime un peu, beaucoup,..pas du tout !,( một chút lãng mạng học trò?)
Một trong những cái vui và để lại nhiều kỷ niệm dễ thương của ngày đi học là những trang lưu bút. Mùa Hè 1961, năm duy nhất trong suốt bảy năm học, vài tuần trước khi chia tay, bạn bè trong lớp trao đổi vài giòng kỷ niệm. Nhiều năm sau, mỗi lần coi lại, rồi nhớ đến từng người bạn cũ, qua những giòng chữ. Một Phạm thị Quỳnh Chi ít nói hiền hoà, một Đặng Kim Hùng cởi mở, tờ lưu bút viết cho bạn bè cũng vui như con người, một Hoàng Thu Hồng, sau vẻ làm đỏm bên ngoài, là người bạn có tình, một Đinh văn Thìn hay nghịch phá nhưng đầy thân thiện, một Võ văn Mại hểu hảo và vui tánh, ngày xưa cũng như gần bốn chục năm sau, (may mắn hơn nhiều bạn cùng lứa như Huỳnh Ngọc Tài, Lê đình Hải hay Lê khả Trính., Thiếu tá không quân Võ văn Mại nay vẫn bình an ở Canada) , một Châu thị Yến Loan dễ mến, một Nguyễn văn Quảng hồn nhiên, một Trần quang Toàn rất khôi hài với tấm ảnh 6x9 mà T. đã tự vẽ lấy, có thêm bộ râu xồm xoàm, rồi đem chụp lại tặng bạn bè, một Đỗ Quý Tấn khác biệt ( ngày đó được gọi là thi sĩ dù Tấn không hề làm thơ!) , một Ngô thị Kim Oanh chân thật, một Lê văn Chơn giàu tình cảm ,.. và nhiều người bạn dễ thương khác nữa..Tập lưu bút ngày xưa đó được gìn giữ mãi, cho đến ngày di tản không mang theo được.
(Châu thị Yến Loan)
Một trong nhiều kỷ niệm còn lại của năm học này là tấm ảnh của buổi họp mặt vui tại căn nhà đường Hùng Vương, Đà Nẵng tháng 4,1961. Trong hình có nhiều bạn bè cũ, người còn (Khương Đại Lượng, Mai Xuân Lương, Phạm thị Duyệt, Mai văn Đính..) , người mất ( như Đặng Kim Hùng, Đỗ ngọc Lệ..,cả hai đều là những người bạn vui tính dễ mến. Riêng Đỗ Ngọc Lệ đã cùng gia đình đến Canada, bạn bè chưa kịp mừng hội ngộ thì được tin bạn mất).

Nam Sinh:
|
|
|
Mai Xuân Lương (Đỗ Quí Tấn)
Lên đệ tam, mỗi người chọn một ban, đã có vài bạn vì hoàn cảnh phải sớm nghỉ học. Năm này vui có thêm nhiều bạn mới từ những lớp đệ tứ khác lên như Vương Ngọc Hà, Nguyễn Hữu Lân.., hoặc các bạn cũ của đệ thất 1 trước kia nay cùng chọn ban A, hay một vài bạn từ những trường tư vào như Lâm Phát Thuận, Trần thị Nga, và đôi bạn Tôn Nữ Như Hảo & Nghiêm thị Kim Ngân ..( Còn nhớ hè 1964 đau bỏ thi kỳ đầu, nhận được một thư hỏi thăm ân cần của Như Hảo, tôi giữ lá thư đó mãi nhiều năm sau)
(Trần Thị Nga)
Năm đệ nhị, trại Hè một ngày, trong sân trường Nam Tiểu Học. Đội bọn tôi (không nhớ do sáng kiến của ai?) mang theo một con gà còn sống. Đẩy cho nhau vì chẳng ai dám làm thịt nó, cuối cùng hình như Đinh thị Kim An phải ra tay hoá kiếp, để có món bún thang hấp dẫn. Chỉ tiếc trong số hai khách quý ghé lại, Thầy Nguyễn Thanh Trầm vàThầy Đặng Như Đức, thì một người- Thầy Đức- lại kiêng thịt gà!

(Thầy Nguyễn Thanh Trầm vàThầy Đặng Như Đức)
Sau buổi trại này là những kỳ thi liên tiếp. Trong lớp nhiều bạn có tên cùng vần nhưng ngày thi Tú tài I, 1963, ở Đà Nẵng, (cũng như mùa thi Tú tài II năm sau, ở Huế) vào phòng thi chỉ được gặp có mỗi bạn Vương Ngọc Hà. Đầu năm đệ nhất, lại có thêm vài bạn từ các trường khác đổi tới như Hồ thị Minh Châu, Nguyễn Quang Trung, Hoàng Bích Quân..Đặc biệt Bích Quân sẽ là nguồn cảm hứng của một đề thi Lý Hoá độc nhất vô nhị! Đã thế, ngày gần Tết năm ấy, Bích Quân lại ngẫu nhiên hát bản Dư Âm, bài hát, cũng như người hát, hẳn đã gợi nhiều xao xuyến cho tác giả của Con lắc trong xe Opel?
|
|
![]() |
(Hoàng Bích Quân) (Hồ thị Minh Châu)
Năm học này dù bận rộn thi cử cuối năm nhưng đệ nhất A vẫn có bích báo. Không hiểu Bùi thị Lệ Hằng (tác giả của những Thung lũng tình yêu hay Sa Tăng dịu dàng sau này) hay Nguyễn thị Ái (nhà văn Thuỳ An tương lai) có đóng góp? ?
|
|
![]() |
|
(Bùi thị Lệ Hằng) |
(Nguyễn thị Ái tức nhà văn Thuỳ An) |
Nhớ đến hai câu thơ (tác giả là ai?) trong tờ báo của lớp năm ấy:
Bên đường bóng Lựu nhìn xa tắp
Bỗng thấy hoàng hôn xuống lạnh lùng
thì lại như còn thấy rõ khuôn mặt dịu dàng của Lưu thị Lựu ,người bạn hiền lành biết bao..
Một hình ảnh đáng nhớ khác là bạn Võ văn Đức, mấy đời làm trưởng lớp.
(Võ văn Đức)
Hè 1964, sau lần du ngoạn Non Nước và sau mùa thi, bạn bè chia tay. Trừ một số rất ít được du học, phần còn lại hoặc vào quân ngũ, hoặc phải nghỉ học đi làm, hoặc tản mát ở các đại học khắp nơi trong nước. Từ đây mỗi người một ngã, dẫu còn tiếp tục cùng học ở một phân khoa thì cũng ít có dịp gặp nhau như thuở còn chung lớp, chung trường. Những tháng ngày hồn nhiên vui xưa đã trở thành kỷ niệm..
Những năm sau đó, thỉnh thoảng lại nghe tin một người bạn cũ, giữa tuổi mới ngoài đôi mươi, ra đi đột ngột. Còn nhớ một Đinh văn Thìn, cao lớn, khoẻ mạnh, đầy vẻ yêu đời, nói cười sang sảng hôm Thu Liên và tôi gặp ở Sài Gòn. Chỉ vài tuần sau đọc báo thấy tin Phi công Đinh văn Thìn đã hi sinh vì công vụ thấy như không thể tin được! Vẫn cầu mong có một sự trùng hợp tên, cho đến lúc nhận được vài giòng của Phạm Ngọc Chấn, từ Canada gởi về cho hay máy bay rớt, kéo Thìn đi theo. Cuộc chiến cũng đã lấy mất đi một số đông các bạn khác cùng lớp như Lê đình Hải, Huỳnh Ngọc Tài, Huỳnh Lô, Lê Khả Trính.., và ảnh hưởng biết bao đến tuổi trẻ,đến cả thế hệ của chúng tôi. Còn nhớ những đêm học thi, khuya nghe tiếng đại bác ầm ầm dội về đến xôn xao. Những tin tức chiến sự vô cùng sôi bỏng với những trận đánh mỗi ngày mỗi thêm khốc liệt ngay sau những năm đầu của thập niên 60. Mặc dù còn được đi học và tạm yên lành ở thành phố, nhưng từ đây cũng đã thấy một nỗi bất an len vào trong đời sống..
Sau bao biến đổi của đất nước, nơi quê người, thỉnh thoảng được nói chuyện, hay được gặp lại một người bạn học cũ là một niềm vui khó tả. Cũng có thể người bạn đó thuở trước ít khi hoặc chưa hề nói chuyện, song cái chung lớp, chung trường ngày xưa cũng có nhiều điều để hỏi, để nói.
Ba mươi bảy năm thoáng qua, tất cả nay đều có con tuổi cũng lớn hơn nhiều so với bọn tôi ngày rời trường, một số bạn đã là những ông bà nội, ngoại hay anh chị sui. Tuy nhiên mỗi lần gặp nhau là một dịp cùng ôn lại những năm học chung, hay cùng nhắc lại các Thầy, Cô xưa, bạn bè cũ. Và khi được nhìn lại hình ảnh cả lớp chụp chung trước cổng trường, ( có đủ các bạn Trần Minh Tài (nay là Đại Đức Khánh Hỷ), Nguyễn văn Tham, Nguyễn Thiếu Ưng, Lê Tự Rô, Từ văn Xin, Trần Minh Xuyên, Nguyễn văn Khánh, Trần Xuân Quang, Trần Đình Thắng, Phan văn Chín, và một thời trưởng lớp Cao Ngọc Trãn..cùng Nguyễn thị Thêm, Nguyễn thị Bảo Hoà và gần như đầy đủ những tà áo trắng của lớp..) lòng không khỏi nao nao..Những năm tháng hồn nhiên nơi trường cũ, hình ảnh những bạn bè ngày nhỏ, những mùa thi xưa lại trở về thật rõ rệt trong trí nhớ...

Phái Đòan PCT tham dự thể thao.
Dẫn đầu, từ trái qua phải: Hùynh Lô (đã mất), Tâm, Cao Ngọc Trãn

(Trần Đình Thắng-Võ Văn Mại-Vũ Văn Long)
người viết : Phan Thị Thu Hà
(nguồn Homestead 2000)
































