Phan Châu Trinh Đà-Nẵng

  • Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Tản Mạn Về Những Ngày Xưa Thân Ái Dưới Mái Trường PCT

Email In PDF.

Mới đó mà thấm thoắt nửa thế kỷ. Một quảng thời gian dài trước cuộc đời. Tôi còn nhớ mãi ngày đó. Cái ngày mà cách đây đúng bốn mươi tám năm trước, tôi một cậu bé đầu húi cua, mặc quần “soọc”, chân mang giày xăng đan, ngần ngại và bỡ ngỡ bước qua chiếc cổng trường, theo một lối đi nhỏ thẳng tắp, băng qua một sân cát thiếu bằng phẳng, trơ trụi giữa nắng sáng, leo lên mấy bậc thềm xi măng, để bước dọc theo một hành lang vào lớp học, chính thức trở thành một học sinh của trường Phan Châu Trinh, tại thành phố cảng Đà Nẵng, xứ Quảng Nam, nơi nổi tiếng là địa linh nhân kiệt, quê hương của Ngũ Phụng Tề Phi. Nơi đó tôi đã sống những ngày thơ ấu đầy hạnh phúc của tuổi học trò. Giờ đây, khi ngồi viết những dòng chữ nầy, sau nhiều năm tháng sống xa quê hương nơi xứ người, ở cái tuổi lục tuần, gần cuối đơì nhìn lại, tôi không khỏi tiếc nuối những kỷ niệm thời thơ ấu, vui có, buồn có, nhưng phần lớn là những kỷ niệm khó quên, mà mỗi khi hồi tưởng lại, lòng tôi không khỏi dâng lên một nỗi buồn man mác, nhớ đến trường xưa, thầy cô và bạn bè cũ.

Trong tập truyện ngắn Ngọn cỏ bồng, Nguyễn Bá Trạc, một bạn học đồng lớp của tôi thời Phan Châu Trinh, hiện nay là một nhà văn được nhiều độc giả yêu thích, trong đó có vợ chồng tôi, qua lối hành văn nhẹ nhàng, dí dỏm nhưng súc tích và rất dễ thương, đã nhắc lại vài kỷ niệm về trường xưa, lớp cũ và bạn cũ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khi nói về lớp cũ, Nguyễn Bá Trạc đã tinh tế phân chia bọn học trò tụi tôi làm hai băng. Băng học trò ngoan gồm đám con gái và mấy thằng con trai ngồi ở các dãy bàn trước, gần bục giảng; và băng các tên nghịch ngợm, thuộc xóm nhà lá ngồi cuối lớp.

Thuở đó, tôi thuộc băng học trò ngoan. Tôi học hành cũng khá, tuy không phải là loại học chăm, nhưng bản tính không mấy nghịch ngợm và không phá phách như một số bạn khác. Hơn nữa tôi còn một ưu điểm đáng quý là rất quý Thầy Cô và một lòng kính mến Thầy Cô. Nhược điểm của tôi thời đó là hay mê gái.

Tôi nhớ mang máng mình thường ngồi ở dãy bàn thứ hai, bên tay mặt. Các bạn ngồi bên cạnh là ai thì tôi không nhớ nổi, có lẽ là Võ Văn Hải mà bọn chúng tôi thường gọi tắt là Võ Hải để phân biệt với Tôn Hải tức là bạn Tôn Thất Hải, cùng với em là Tôn Thất Tuấn, dường như ngồi ở dãy bàn đầu.

Riêng bạn Phạm Hữu Phụng, một bạn học thời Phan Châu Trinh, hiện nay tôi may mắn được ở gần và thường cùng nhau ôn lại những kỷ niệm cũ, thì lúc nhỏ tuy rất ngoan nhưng phải cái tội là to con, cao lớn nên được các Thầy Cô sắp cho ngồi ở bàn cuối chung với xóm nhà lá.

Nghịch nhất thời đó, và cũng là cây đinh của lớp, là Phan Nhật Nam, về sau trở nên nhà văn phóng sự quân đội rất nổi tiếng, tác giả của Mùa hè đỏ lửa, Dựa lưng nỗi chết, vv…

Tôi còn nhớ năm Đệ nhị có hôm Phan Nhật Nam vào lớp vẽ lên bảng hình một ông sư to lớn, trần trùng trục, đầu trọc lóc, xong đi quanh lớp đố bạn bè có ai đoán ra đó là ai không? Chờ mãi không thấy ai đoán được, Nam mới vui vẻ bảo: “Thì ai vào đây nữa! Ong Tăng chứ ai! Trần Đại Tăng không phải là ông sư ở trần to lớn sao?” Cả bọn tụi tôi lúc đó ai cũng cười ồ đồng ý với hắn.

Một lần trước nữa, năm còn học Đệ ngũ, lúc cô Đính dạy vạn vật vẽ hình các con thú lên bảng, và dùng phấn đỏ tô màu mấy ngón chân thú, thì Phan Nhật Nam phán một câu xanh rờn: “Bây ơi! Thú vật cũng biết tô móng tay như cô Đính”.

Bọn tôi lúc đó ai cũng sợ hãi. Đại để về nghịch ngợm có lẽ không ai qua được Phan Nhật Nam, nhưng dễ thương thì hắn thực là rất dễ thương nhờ có máu khôi hài, ưa trò chuyện, và hắn cũng rất thương bạn.

Trong tất cả bạn bè thời còn bé thì Nam là bạn lâu đời nhất của tôi, cùng học chung tiểu học ở Huế, rồi tiểu học ở Đà Nẵng, sau đó là trung học ở Phan Châu Trinh và cuối cùng là Quốc Học ở Huế cho đến lúc hắn từ giả trường học để bước vào quân ngũ, khởi đầu cho một cuộc đời đầy sóng gió.

Hai người bạn học giỏi nhất lớp tôi thời đó là Lê Tự Hỷ và Nguyễn Hữu Hùng. Các năm Đệ thất và Đệ lục tôi chơi rất thân với Hỷ. Tôi vẫn thường đạp xe đến nhà Hỷ, có khi chỉ để vui đùa, có khi học hành và làm toán chung. Lê Tự Hỷ tỏ ra rất có năng khiếu về toán ngay từ thuở đó. Tôi còn nhớ là có lần hắn khoe với tôi một khám phá toán học mới. Bây giờ nhìn lại thì khám phá mới nầy chẳng qua chỉ là mấy công thức căn số mà thôi. Tuy nhiên hắn cũng làm tôi nể nang hắn dữ lắm. Thêm vào đó, cha tôi lúc sinh tiền vẫn luôn lấy Lê Tự Hỷ ra làm gương tốt để dạy tôi về sự chăm chỉ học tâp của một người học trò hiếu học, như ông vẫn thường nói. Ong cũng thường kể cho tôi nghe về tài năng, nghị lực và cái “khí tượng”, như lời ông thường nói, của người dân xứ Quảng, nhất là truyền thống khoa bảng của họ. Những lời dạy của cha tôi cùng với những năm dài lớn lên ở Đà Nẵng đã ảnh hưởng rất nhiều đến tâm tư, tình cảm của tôi về sau, và đã làm cho tôi có một cái nhìn khá thiên lệch về xứ Quảng.

Đối với tôi, tất cả những gì liên quan đến xứ Quảng đều có vẻ trân quý hơn, thân thương hơn. Moi khi nghe ai nói giọng Quảng tôi đều cảm thấy thân thiện và quyến luyến. Riêng về Lê Tự Hỷ thì thuở đó, một phần do tính hiếu thắng, mặc dầu không nói ra nhưng tôi vẫn không thích hắn về cái “tội” là học quá chăm. Có thể nói hắn gạo thuộc lòng tất cả mọi môn từ “vocabulaire” tiếng Pháp tới Sử Địa. Cũng vì thế mà tôi, một thằng vốn học hành không mấy chăm chỉ, theo đúng qui luật tự nhiên ngưu tầm ngưu mã tầm mã, đã dần dần xa hắn hơn, và chơi thân với mấy thằng khác học ít chăm hơn.

Mặc dầu học rất giỏi nhưng thuở đó, năm Đệ thất, Lê Tự Hỷ cũng đã làm một chuyện rất …”dại dột”. Không biết hắn học ở đâu một phương pháp luyện nghị lực mới là mỗi buổi sáng khi mặt trời mới mọc, phải nhìn thẳng vào mặt trời, bằng mắt trần, và đừng chớp mắt, càng ít chớp mắt càng tốt, nhìn càng lâu càng hay, vì làm như thế, theo hắn nói, sẽ làm cho ta có thêm nhiều nghị lực (???!!!). Thuở đó tôi dại dột làm theo lời hắn, nhưng cũng may là tôi thấy tập kiểu nầy quá khó nên đã lén bỏ cuộc. Không biết hắn dại dột tập như thế đến bao lâu nữa mới ngừng, nhưng chắc chắn hắn đã ngừng tập một lúc nào đó, vì nếu không, tia tử ngoại trong ánh mặt trời đã đốt cháy võng mạc và hắn đã đui rồi. Sau năm 1975, tôi gặp lại Lê Tự Hỷ ở Sài Gòn có nhắc lại với hắn về kỷ niệm nầy thì hắn chỉ bẽn lẽn im lặng không nói một lời nào cả.

Đối thủ của Lê Tự Hỷ, tranh giành nhau với hắn cái bảng danh dự đứng đầu lớp, là Nguyễn Hữu Hùng, nhỏ hơn tôi một tuổi, ngưòi trắng trẻo, tính tình rất dễ thương. Thuở đó, theo tôi nghĩ, Hùng là ngươi duy nhất có tổ chức sinh nhật. Dường như Hùng sinh cuối năm, gần ngày Noel. Năm nào tôi cũng được chú thiếm, ba mẹ Hùng, mời đến chung vui với Hùng ngày sinh nhật của hắn.

Từ năm Đệ ngũ trở lên tôi chơi thân với bốn người. Đó là Võ Văn Hải, Nguyễn Văn Minh, Hồ Công Lộ và Nguyễn Thu Giao. Võ Hải, ngoài cái tính chiều chuộng bạn bè rất giỏi, còn có mấy cái tài mà tôi phục sát đất. Võ Hải vẽ đẹp, và có biệt tài cắt chữ trên giấy màu, vừa nhanh vừa đẹp. Mỗi lần cần làm bích chương hoặc viết khẩu hiệu dán lên băng vải thì bao giờ cũng cần tới bàn tay khéo léo của hắn.

Tuy nhiên cái tài thực dụng nhất, váo thời điểm đó, mà tôi từng ước ao được như hắn vào cái tuổi con trai mới lớn và mê gái như tôi, là đàn hay hát giỏi. Thuở đó những bản nhạc mới “lăng xê” thường được hát qua đài phát thanh và phải mất nhiệu thời gian sau, bản nhạc chính mới được bày bán ở Đà Nẵng. Võ Hải chỉ cần nghe đi nghe lại bản nhạc vài lần qua đài phát thanh, và hí hoáy dùng ký âm pháp để ghi lại bản nhạc trên tờ giấy mà hắn đã kẻ sẵn, và không bao lâu sau đó, trước cặp mắt ngưỡng mộ thán phục của tôi, cầm đàn gảy lên và cất giọng ca trầm ấm hát lên bản nhạc làm say đắm lòng tôi.

Thuở đó tôi rất mê nhạc và mê nghe hát. Những buổi ca hát do Ty Thông Tin thành phố tổ chức không mấy khi thiếu mặt tôi mặc dầu cha tôi đã ngăn cấm tôi nhiều lắm, vì sợ tôi không lo học hành. Tôi vẫn thường canh chừng lúc Ong đi vắng để phóng vội xe đạp lên Xóm Chùa Hải Châu, vui đùa ca hát với Võ Hải và các bạn khác ở đó.

Tôi còn nhớ năm Đệ ngũ, Hồ Công Lộ còn ở gần Cầu Vồng với ông bác. Mãi về sau mới dời nhà đến gần nhà anh em Tuấn Hải. Lộ có thời phụ trách làm báo cho lớp tôi và hắn lúc nào cũng tin tưởng giao cho tôi viết mục bình luận: ở đó tôi từng lên tiếng dạy đời qua ngôn ngữ của một ông cụ non. Lộ thường hay rủ tôi đạp xe đạp về Khuê Trung, gần phi trường Đà Nẵng thăm mẹ và các em hắn. Mỗi lần như thế, bác gái, mẹ Lộ thường cho ăn mít vườn nhà, mà hương vị thơm ngọt của nó, cho đến gần nửa thế kỷ sau, tôi vẫn còn ghi nhớ.

Nguyễn Văn Minh là ngươi bạn rất tốt, dễ thương và hòa nhã mà tôi luôn luôn quý mến. Hắn rất thông minh và giỏi toán nhưng lại sợ…sinh ngữ. Thuở đó hắn gặp khó khăn về vấn đề phân biệt “B trên”, tức là B, và “P dưới”, tức là P.

Nguyễn Thu Giao, tôi rất thân vào các năm Đệ tam, Đệ nhị và cả Đệ nhất ở trường Quốc Học Huế. Nhà Giao ở đường Nguyễn Hoàng, gần trường Phan Châu Trinh và Thánh Thất Cao Đài. Tôi vẫn thường đến nhà Giao để đấu láo về những ngươi đẹp của trường Phan. Người đẹp mà hai đứa bọn tôi bàn đến nhiều nhất thời đó là Quỳnh Chi. Câu chuyện thường hết sức lẩm cẩm, đại để như sau. Chàng hỏi nàng: “Em tên chi?”, nàng nhái lại: “Em tên Chi”. Ấy thế mà hai đứa chúng tôi cươi đùa vơí nhau hết sức tương đắc. Nguyễ Thu Giao là người bạn học cũ mà tôi không ngớt ước ao được có một lần, dù chỉ một lần thôi, gặp lại để nhìn lại cho thỏa thích gương mặt thân thương, và nghe được giọng nói hòa nhã và dễ dãi, pha chút Huế và chút Quảng của hắn. Lần cuối cùng tôi gặp Nguyễn Thu Giao và Bùi ngọc Tô, một người bạn khả ái khác, là vào năm 1965 ở Sài Gòn. Gần đây nhờ công lao lớn của Phạm Hữu Phụng trong một lần Mỹ du, tôi đã bắt liên lạc lại với Giao, nhưng mơ ước gặp lại hắn thì cho tới giây phút nầy vẫn còn là mơ ước.

Những kỷ niệm thời thơ ấu dưới mái trường Phan Châu Trinh quả thực đầy ắp trong tim và trong trí nhớ của tôi, mà cho dù năm tháng đã bào mòn nhiều chi tiết, cũng còn đủ cho tôi để viết nhiều, thực nhiều. Bạn cũ ai còn ai mất, cô thầy xưa bây giờ chắc tuổi già bóng xế, không biết rồi đây mình có gặp lại ai chăng, hay chỉ nhận được tin buồn mất mát, để rồi đôi mắt ngấn lệ, tưởng nhớ người xưa, với nỗi xót xa là đãkhông may gặp lại nhau, dù chỉ một lần thôi, kể từ ngày hăm hở rời mái trường Phan yêu dấu để ra đi xây giấc mộng đời. Nhũng con chim bé bỏng ngày đó bây giờ đã đủ lông đủ cánh để bay đến những chân trời xa lạ, nhưng có đôi lúc chồn chân mỏi cánh, không khỏi chạnh lòng nhớ về tổ ấm năm xưa.

Tôi còn nhớ thuở đó các Cô phần đông thì hiền, còn các Thầy lại nghiêm. Bọn tôi thời đó, ít nhất là tôi, thường thương Cô hơn Thầy. Ay thế mà không hiểu tại sao dù bây giờ cố gắng nhớ lại tôi cũng không sao nhớ nổi hình ảnh các Cô của mình, như cô Đính, cô Trà, cô Ngọ, cô Liệu, hay cô An Hà Châu. Nếu đọc qua đoạn nầy, xin các Cô tha lỗi cho em về cái trí nhớ còm cõi nầy. Thời gian xa cách quá lâu, cộng thêm những biến cố lớn lao đã xảy ra cho quê hương và gia đình, đã làm cho mỗi người Việt Nam chúng ta bị mất mát quá nhiều và trí nhớ hình như cũng cạn kiệt đi.

 Cô Đính

Chỉ có một cô giáo duy nhất mà tôi vẫn còn nhớ mường tượng dung nhan là cô Bội Hoàn. Thuở đó, trong con mắt của bọn con trai mới lớn tụi tôi, thì cô có vẽ đẹp rất quý phái, có thể nói cô là cô giáo đẹp nhất trường. Chồng cô là một bác sĩ trong quân đội. Ông vẫn thường cởi xe Vespa đến đón Cô ở sân trường trước những đôi mắt thán phục của đám học trò mới lớn bọn tôi, vì ông đã tài giỏi cuỗm được cô giáo xinh đẹp của bọn chúng.

 Cô Bội Hoàn (1)

Nhắc đến trường Phan Châu Trinh phải nói ngay là không ai có thể quên được thầy Nguyễn Đăng Ngọc. Cuộc đời Thầy đã gắn bó rất nhiều với trường Phan. Thời tôi còn học, Thầy là hiệu trưởng và vì chức vụ Thầy rất nghiêm. Phải nói là thuở đó tôi sợ Thầy hơn “sợ cọp”. Mỗi lần thấy bóng Thầy là tôi tức khắc lẻn đi chỗ khác vì sợ vô phước Thầy phạt cho vài ngày cấm túc thì khốn. Mỗi lần có việc đi qua văn phòng của Thầy, tôi luôn luôn giữ im lặng và trang nghiêm y như là Thầy đang ở đâu đó sẵn sàng phạt tôi. Tôi còn nhớ thuở đó Thầy dạy cả Việt văn và Pháp văn. Có lẽ vì quá sợ Thầy nên các môn Thầy dạy tôi đều cố gắng chăm chỉ hơn các môn khác nên đứng cao trong lớp và vì vậy tôi nghĩ chắc Thầy cũng thương tôi. Và cũng nhờ quá sợ và tránh né Thầy nên suốt thời gian học ở Phan Châu Trinh tôi chưa bao giờ bị Thầy Ngọc phạt. Về sau khi lớn khôn, trong số tất cả thầy cô thời đó, tôi chỉ được may mắn gặp lại một mình Thầy Ngọc sau năm 1975 ở Sài Gòn và ở Uc. Lúc đó tôi mới nhận ra là tuy bề ngoài rất nghiêm, nhưng bên trong Thầy lại là một người rất tình cảm và rất thương yêu học trò

.

 Thầy Nguyễn Đăng Ngọc (quần áo trắng) 

Như các bạn biết, trong thời thơ ấu mài đủng quần trên ghế nhà trường, mấy ai trong chúng ta dám tự hào là không bao giờ bị Thầy Cô phạt. Tôi cũng thế. Kể về những lần bị phạt vì lười học thì chắc cũng nhiều, không tài nào nhớ hết. Riêng tôi có hai lần bị phạt khá nặng, đã để lại trong tôi những ấn tượng khó phai. Trớ trêu hơn nữa la, tôi, một ngườ đam mê toán học từ thuở nhỏ và khi lớn lên lại theo đuổi toán học cả đời, mà cả hai lần bị phạt nặng nầy đều do thầy…toán phạt.

Ngươi đầu tiên đã phạt tôi một trận ra hồn là thầy Bùi Tấn. Tôi còn nhớ rõ lúc đó tôi học lớp Đệ lục. Lớp học của bọn tôi vẫn còn ở dãy nhà trệt vì dãy nhà lầu chưa được xây cất. Tôi ngồi ở dãy bàn thứ nhì,bên tay phải, phía nhìn lên bục giảng. Thuở đó bọn tôi còn dùng bút máy, phải bơm mực vào cái ống bên trong thân cây viết, khi nào hết mực lại bơm thêm xài tiếp lần khác.

Bửa đó thầy Tấn đang giảng bài toán hình học và cả lớp ngồi im phăng phắc nghe giảng và ghi chép bài Thầy dạy. Tôi cũng ghi chép như các bạn khác. Không biết Trời xui Đất khiến hay sao, mà trong lúc tôi hí hoáy ghi vào tập, thì tự nhiên cả ống mực bên trong thân cây viết đổ trào trên trang giấy. Vì sợ mực lem ra toàn thể quyển vở và phải chép lại cả tập vở, vì thuở đó Thầy Cô rất thường xét tập vở coi có sạch sẽ hay không, nên tôi vội vàng xé toạc trang giấy lấm mực và vò lại một cục.

Trong phòng im phăng phắc, cả tiếng ruồi bay cũng nghe, tiếng xé giấy của tôi làm cả lớp giật mình. Thầy Tấn đang giảng thao thao bất tuyệt cũng ngưng giảng, mặt Thầy ửng đỏ vì giận. Thầy quát lên: “Ai làm ồn. Đứng dậy!”. Tôi mặt mày tái mét, tay chân run lẩy bẩy, đứng dậy nói lí nhí: “Thưa Thầy, em bị đổ mực lên vở.”. Thầy nghiêm khắc nói: “Trò là một người vô ý thức! Trò có biết là trò đã phá quấy không cho cả lớp học học hành hay không?”. Tôi lí nhí dạ vâng nhưng cả người run lẩy bẩy vì sợ Thầy. Một lúc sau Thầy bớt giận và cho phép tôi ngồi xuống và tiếp tục giảng bài, nhưng có vẽ như Thấy vẫn còn giận vì giọng Thầy vẫn run run.

Lúc đó trong khi các bạn tôi tiếp tục chép bài thì tôi lại lo chuyện bị Thầy phạt vì không chép, dầu viết tôi lúc đó không còn mực, cho dù muốn viết cũng không viết được. Suốt cả buổi học hôm đó tôi rất lo buồn và cầm chắc trong tay là thế nào cũng bị Thầy phạt ít nhất là vài ngày cấm túc. Nhưng rất may là sau khi Thầy bớt giận, Thầy biết tôi đã biết hối lỗi nên đã lờ đi và không phạt tôi.

Thầy Bùi Tấn là một người Thầy rất nghiêm khắc, nhưng rất tận tuỵ với nghề nghiệp. Kể từ lúc rời bỏ trường Phan Châu Trinh cho đến nay, tôi chưa bao giờ được gặp lại Thầy và vĩnh viễn không bao giờ còn có cơ hội gặp lại Thầy nữa, vì gần đây tôi bàng hoàng nhận được tin Thầy đã mất. Tôi xin được thắp nén hương lòng gởi về vị Thầy cũ khả kính nỗi nhớ thương và lòng biết ơn Thầy đã dày công dạy dỗ thế hệ chúng tôi.

Lần thứ nhì tôi bị phạt thì đúng là rất oan. Tôi còn nhớ dạo đó tôi học lớp Đệ nhị. Trời phú cho tôi cái giọng vịt đực, hát rất dở nhưng lại hay mê hát. Thuở đó có bản nhạc Que sera! sera! do nữ ca sĩ Doris Day hát rất thịnh hành và bọn học trò chúng tôi rất mê. Tôi hát đi hát lại bản nhạc đó không biết chán. Có khi trước mặt bọn con gái vì biết mình hát dở không dám hát sợ quê, nhưng tôi lại đổi qua thành huýt sáo Que sera! sera! What will be will be…Tôi hát mãi đến độ Phan Bái, một bạn học cùng lớp, tính tình rất dễ thương hòa ái, cũng đâm tức cười và bỡn cợt đặt cho tôi cái biệt hiệu là “Thằng Doris Day phẩy”. Xin các bạn biết cho là lúc đó tụi tôi học ban Toán, thường hay học về các tam giác đồng dạng ABC và A’B’C’, do đó ý của Phan Bái muốn chọc tôi là nhái Doris Day.

Tôi còn nhớ hôm đó, đến giờ ra chơi, như thường lệ tôi bước ra khỏi lớp, vừa đi vừa huýt sáo vui vẻ bài tủ …Que sera! Sera! Sân trường lúc đó đang vang lên tiếng nô đùa la hét của các em học lớp dưới. Tôi đang huýt sáo vui vẻ đi ngoài hành lang tầng dưới của dãy lầu, thì bất thình lình nghe tiếng thầyTrần Đại Tăng gọi giật: “Nghệ! Vô đây!”. Tôi còn nhớ khi bước vào lớp Thầy, thì Thầy đã hết dạy và lố nhố chung quanh Thầy là mấy cô nữ sinh. Thầy bảo: “ Ngươi làm ồn quá! Hai giờ cấm túc!”. Tôi tái mặt lí nhí cãi: "Thưa Thầy giờ ra chơi mà. Em huýt sáo có gì sai?”. Thầy vẫn không đổi ý và bảo giọng nghiêm hơn: “Hai giờ cấm túc!”.

Mặc dầu tôi rất xấu hổ vì bị Thầy phạt trước mặt đám con gái, nhưng tôi vốn rất sợ Thầy nên ríu ríu nhận phạt mặc dầu trong lòng tôi lúc đó rất bất mãn vì nghĩ Thầy phạt vô lý. Sau đó tôi than thở với bạn bè thì trong số bạn bè có một người, tôi không nhớ là ai, đã bảo: “Mày xui thiệt ! Giờ ra chơi thiếu gì chỗ khác, sao lại đi huýt sáo lúc Thầy đang nói chuyện với các nàng.”. Tôi vẫn ấm ức một thời gian vì bị oan, nhưng sau đó dần dần quên lãng đi. Không lâu về sau tôi và các bạn ra Huế học và kể từ đó không được gặp lại Thầy, mặc dù lòng thương mến Thầy của tôi không hề suy giảm.

Cách đây gần nửa năm, do một sự tình cờ hoàn toàn ngẫu nhiên, tôi khám phá ra Website xứ Quảng, và đọc được nhiều bài về trường cũ qua mạng lưới nầy. Khi đọc tới bài thơ “Bỏ trường mà đi” của thi sĩ Trần Hoan Trinh, tức là Thầy Trần Đại Tăng, với mấy câu thơ sau:

“Ta đến khi tóc xanh
Ta về khi tóc bạc
Này, mai trên trường xưa
Có một người thiếu mặt”

Thầy Trần Đại Tăng

Tôi bồi hồi cảm xúc, nhớ đến Thầy, nhớ công ơn Thầy dạy dỗ, mà mắt tôi đỏ hoe. Tôi ngồi im gần nửa giờ, ôn lại những kỷ niệm năm xưa, thương Thầy bây giờ tóc bạc phơ, xong lặng lẽ lấy giấy bút viết lên vài dòng thơ nhỏ, định bụng có ngày sẽ gởi đến Thầy.

Vợ tôi thấy tôi có vẻ khác lạ, tưởng tôi bị bệnh nên hỏi thăm xem có bị gì không? Tôi kể cho bà xã nghe lý do, và chỉ cho nàng xem bài thơ của Thầy trên trang Web. Sau đó tôi đưa bài thơ mới sáng tác cho nàng coi. Thỉnh thoảng nhiều khi cao hứng tôi cũng có làm thơ và thường hay khoe với vợ. Vợ tôi cũng rất sính làm thơ. Mỗi lần như vậy, nàng thường khen nức nở theo kiểu mèo khen mèo dài đuôi. Nhưng lần nầy, nàng chỉ nhỏ nhẹ nói: “Bộ anh chỉ lặp lại mấy câu của Thầy sao?”. Qua lời nói của bà xã, tôi cảm nhận là bài thơ mình mới làm, nhan đề “Nhớ Thầy cũ”, chắc là một bài thơ…dở. Tuy nhiên vì tôn trọng giá trị “lịch sử” của nó, dầu sao cũng diễn tả tâm trạng của tôi khi được tin và đọc thơ Thầy, nên tôi quyết định giữ nguyên không thay đổi một chữ nào, và xin phép được chép ra đây để thay cho phần kết của tôi bài nầy và để kính tặng Thầy với trọn nỗi niềm nhớ nhung và lòng hiếu kính của một đứa học trò cũ:

Thầy đến trường Phan lúc tóc hãy còn xanh
Thầy bỏ trường mà đi khi mái đầu bạc trắng
Bóng dáng Thầy thân thương trên khắp bục giảng
Học trò Thầy luôn ghi khắc trong tim
Bốn mươi năm miệt mài nơi trường cũ
Tháng ngày qua, Thầy một dạ sắt son
Lời Thầy giảng năm xưa chợt bừng sống dậy
Kỷ niệm ngày xanh chất ngất hiện về
Nơi đây tận cuối chân trời đất Úc
Cách trường xưa gần nửa quả địa cầu
Đứa học trò bé bỏng năm nao
Tim thổn thức khi được tin Thầy cũ
Mơ có ngày về thăm ngôi trường nhỏ
Gặp lại Thầy xưa nước mắt rưng rưng
Đôi mái đầu xanh thuở nào nay đã bạc
Ôm choàng lấy nhau kể lể chuyện tâm tình.

Trương Công Nghệ (PCT 1954-1960)

Sydney, Australia, 2002
(bản nguyên tác của người viết)

Ý Kiến Bạn Đọc (0)

BẠN ĐỌC MUỐN GÓP Ý VỀ BÀI VIÊT, XIN ĐIỀN VÀO NHỮNG Ô TRỐNG DƯỚI ĐÂY :

Khung nhỏ, bấm vào đây | Khung lớn, bấm vào đây

busy
Những dòng giao cảm
Trung Học Phan Châu Trinh
Ngày Thành Lập (có cập nhật)

Bác Sĩ tại Đà Nẵng trước 30 tháng 4

Thi Tập Trần Hoan Trinh

Giáo Sư PCT Đà Nẵng ( random image)

ThayTNQue.jpg
Đại Hội PCT Thế Giới kỳ II
HÌNH ẢNH*TIN TỨC*PHÓNG SỰ
Dư Âm Đại Hội PCT Thế Giới kỳ II
THI VÂN
Đại Hội PCT Thế Giới kỳ I
TOÀN TẬP VIDEOS BAOSON
BẠN BÈ MỘT THỜI PCT
bài viết của PHAN THU HÀ

Một thời PCT Đà Nẵng ( random image)

MinhChau1966.jpg
bài viết của Thi Vân
Tập Ảnh "Trung Học PCT"
NGUYỄN DIỆU LIÊN HƯƠNG
Tiếng Hát PHAN CHÂU TRINH
PHƯỚC KHÁNH

Kinh Nghiệm về Cọng Sản

Dalai Lama: Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng đôc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời

PHAN CHÂU TRINH ĐÀNẴNG

Số lần xem bài viết : 1525428
You are here: KỶ NIỆM TRƯỜNG XƯA Lưu Bút Ngày Xanh Tản Mạn Về Những Ngày Xưa Thân Ái Dưới Mái Trường PCT