
Tấm hình xưa: Lớp Đệ Nhất A PCT (1957-1964)
Từ trái: Châu Thị Yến Loan – Nguyễn Thị Ái – Lưu Thị Lựu – Võ Hồng Đóa – Đào Thị Thái – Nguyễn Thị Em - Đặng Thị Thành - Huỳnh Thị Phú – Nghiêm Thị Kim Ngân – Tôn Nữ Như Hảo - Trần Thị Nga (hình như đang ứa lệ??).
Sáng nay, Phan Thanh Hòa email cho tôi một tấm hình với dòng chữ không dấu: “Kinh chuyen den chi hinh may chi chup nam De-nhat A, trong do co hinh Chi”. Nhớ Hòa học với tôi 3 năm đệ tam, đệ nhị và đệ nhất PCT. Còn những năm trước nữa thì không rõ Hòa học Anh hay Pháp văn, có reply hỏi nhưng không thấy trả lời. Tôi vẫn mường tượng được gương mặt của Hòa hồi còn đi học, gần 50 năm trôi qua, giờ gặp lại chắc không nhận ra, chỉ nghĩ là sao bây giờ Hòa khách sáo thế. Bạn bè mà, gọi “chị” cũng được, nhưng “kính” thì hơi quá đáng.
Thôi không sao, Hòa có lòng tốt như vậy, bắt bẻ làm gì, các bạn đồng ý không? Nhìn hình thấy rất vui, vẫn nhận ra đầy đủ tên họ của các nữ sinh thuở hoa bướm học trò: Châu thị Yến Loan, người viết, Lưu thị Lựu, Võ thị Hồng Đóa, Đào thị Thái, Nguyễn thị Em, Đặng thị Thành, Huỳnh thị Phú, Nghiêm thị Kim Ngân, Tôn Nữ Như Hảo và Trần thị Nga. Tôi nhớ cả không gian (phòng học lớp đệ Nhất A), thời gian (buổi họp mặt tất niên năm Giáp Thìn 1964), nhớ từng bạn và một vài kỷ niệm chưa quên sau năm học cuối, xa rời mái trường Phan.
Tôi và Đào thị Thái gần như chưa bao giờ mất liên lạc, cùng lên Đại học, cùng sinh hoạt trong Hội Nhà Văn, cùng là thành viên trong nhóm bạn bè bô lão được gọi vui là “nhóm Tào Lao PCT”, lâu lâu họp mặt cà phê cà pháo, ăn uống vui chơi.
Lưu thị Lựu rất thân, ngồi bên tôi suốt 3 năm học. Sau 75, Lựu bán áo quần cũ ở chợ Tân Bình, thỉnh thoảng tôi ghé thăm. Cuộc sống thiếu thốn ai cũng khổ, nên hai đứa thường nhắc lại những chuyện hồi đi học cho đỡ buồn. Thật tiếc, Lựu bị bệnh tim nên mới 50 đã ra đi.
Yến Loan tốt nghiệp Sư Phạm, về dạy trường PCT, trước 75 tôi có gặp nhiều lần, nhưng đáng nhớ nhất là năm 2004, tôi về Đà Nẵng, hai đứa đã là hai bà lão 60 nhưng vẫn còn mạnh khỏe, cùng dung dăng dung dẻ đi chơi khắp đó đây và có ghé thăm Tôn Nữ Như Hảo.
Vào thời gian khổ nhất trong cuộc đời, ngày hai bữa cơm độn bo bo, tôi có gặp Đặng Thị Thành và Nguyễn thị Em. Em giờ ở Đức, Thành vẫn còn ở Đà Nẵng. Tôi gặp Nghiêm thị Kim Ngân vào năm 1999 và nhiều lần sau nữa. Ngân đang ở Sài Gòn. Hồng Đóa ở Mỹ, năm 2010, Đóa về Việt Nam có họp mặt bạn bè.
Huỳnh thị Phú và Trần thị Nga hiện ở Mỹ. Đến bây giờ tôi vẫn chưa gặp lại.
Năm cuối cùng của bậc trung học buồn vui lẫn lộn. Buồn vì thiếu vắng những bạn không qua nổi kỳ bán phần, nhưng vui vì lớp có thêm những gương mặt mới. Càng vui hơn nữa khi có những đám cưới bất ngờ, để lại bao thất vọng, tiếc nuối cho những kẻ tình si!

Tấm hình nay (sau 47 năm): Nhóm Tào Lao PCT Sài Gòn
Từ trái, hàng đầu: Đào Thị Thái (số 3) - Nguyễn Thị Ái (Thuỳ An), số 6.
Nhân đây, tôi cũng muốn nhắc lại một vài thầy cô ghi nhiều dấu ấn sâu đậm cho quãng đời tươi đẹp của chúng tôi, mãi đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy bồi hồi xao xuyến.
Trước hết là thầy Mai dạy Lý Hóa. Giờ dạy đầu tiên, thầy tự giới thiệu: “Tôi tên Lê…, năm nay 25 tuổi.” Dưới xóm nhà lá bỗng cất lên tiếng một nam sinh (không biết là ai): “Ủa, rứa mà em tưởng thầy 52 tuổi chớ.” Cả lớp cười ồ. Tôi hết hồn, sợ thầy giận không chịu dạy thì mệt lắm. Không ngờ, thầy chỉ lắc đầu, thông cảm cho cái trò “nhất quỉ nhì ma” mà bỏ qua tất cả. Nói chung, ngoại trừ vụ án “con lắc đơn” mà cả lớp tôi ai cũng biết, thầy rất hiền và tận tâm. Sau 75, thầy đi Mỹ theo diện HO. Thầy về VN nhiều lần. Tôi đã gặp thầy, ngồi cạnh thầy trong tiệc cưới của con trai Thục Nhi. Hình như năm đó thầy chưa tới 70, nhưng trông già yếu lắm. Thầy cầm cuốn sách trong tay, bảo tôi: “Lát nữa nhớ nhắc thầy đem về, sợ thầy quên.” Vậy mà cuốn sách rớt xuống sàn hồi nào không hay. Khách đã về gần hết. Khi tôi nhặt sách lên chạy ra tìm thầy, thì đã thấy thầy ngồi bần thần trên băng ghế bên lề đường như đợi chờ ai. Tôi đưa sách cho thầy: “Thầy chưa về sao?” “À, thầy chờ xe bus.” Tôi đỡ thầy đứng dậy: “10 giờ khuya rồi, đâu còn xe bus nữa, để em kêu taxi cho thầy.” Mới đây, nhân vật nữ trong vụ án “con lắc đơn” có chuyển cho tôi tấm hình thầy đang trên giường bệnh, nghe nói thầy bị té. Thương thầy nhưng xa xôi quá không thể đến thăm.
Tiếp đến là cô Gia Lai dạy Triết. Cô chỉ dạy vài tháng thôi, nhưng hình ảnh khả ái của cô luôn làm tôi nhớ mãi. Mái tóc ngang vai mềm mại, nét thùy mị dịu dàng, nụ cười duyên dáng, đặc biệt cô giảng bài rất lôi cuốn đến nỗi khi hay tin cô không dạy lớp tôi nữa, đứa nào cũng tiếc ngẩn ngơ. Năm rồi tôi có gặp cô trong buổi họp mặt tất niên của các học sinh Phan Thanh Giản, thấy cô vẫn dễ thương như xưa.
Thầy Đặng Như Đức dạy Sử Địa mới ra trường, dáng rất thư sinh. Thầy rất thích ca hát, và hát khá hay. Hai bài “ruột” của thầy là “Đường về khuya” và “Hoa soan bên thềm cũ”, lớp nào cũng được thưởng thức.
Thầy Trầm là giáo sư hướng dẫn, dạy Vạn Vật, suốt năm cho chúng tôi thưởng thức các món tim, gan, phèo, phổi… ớn thấy mồ. Sợ nhất là lạc vào mạng lưới của các sợi nơ ron trong mê hồn trận “Hệ thần kinh”. Không ngờ sau này tôi cũng nối gót thầy. Nhớ vừa rồi gặp em học sinh cũ (bây giờ cũng gần 60), lời đầu tiên em nói: “Cô ơi, ngày xưa học cô, đến giờ “hệ thần kinh não tủy” của cô là em cúp cua dài dài.”
Thầy Việt dạy Pháp Văn, sinh ngữ chính. Thích nhất là những giờ Littérature đầy hào hứng khi được nghe thầy giảng về phong trào thi ca của trường phái lãng mạn thế kỷ 19, được học những bài thơ của các thi sĩ nổi tiếng rất hay, dễ dàng lay động những trái tim mẫn cảm của tuổi mười tám, đôi mươi. Qua thế kỷ 21, tôi có gặp thầy, cũng trong tiệc cưới con trai Thục Nhi. Trông thầy vẫn mạnh khỏe.
Tôi xin kết bài này bằng bản dịch bài thơ Chanson d’automne của Paul Verlaine mà năm đệ nhất, chúng tôi đã thuộc nằm lòng.






























