Phan Châu Trinh Đà-Nẵng

  • Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

KỶ NIỆM TRƯỜNG XƯA

Tấm ảnh Ngày Xưa (1 & 2)

Email In PDF.

 

Ghi Chú:
Bài viết có tính cách sinh họat nội bộ của "Một Thời Phan Châu Trinh Đà Nẵng",
yêu cầu những Trang Web khác vui lòng đừng trích đăng lại.
Thành thật cám ơn.
Webmaster PCTDN.

 Đây chẳng phải là “tấm ảnh ngày xưa” với kỷ niệm của thuở niên thiếu mộng mơ:
”ngày xưa em đến chơi tặng tôi một chiếc hình,
ghi nhớ ngày chúng mình vừa quen nhau…” (nhạc Lê Dinh)
mà là tấm ảnh buổi tiệc tất niên của lớp Đệ Nhất A Phan Châu Trinh Đà Nẵng 1964.

Nhìn vào ảnh, tôi nhận ra ngay “nụ cười mím chi “ của Nga và nhớ lại từng khuôn mặt, mái tóc, giọng nói... của những người bạn học cùng lớp năm xưa.

Cái “chuỗi liên tưởng” của Cô Phan Thanh Gia Lai dạy Tâm Lý Học hồi đó đã đưa tôi về “một thời là học sinh Phan Châu Trinh Đà Nẵng”.

Tấm ảnh có mười một khuôn mặt giai nhân, từ phải sang trái, tôi còn nhớ tên từng bạn: *Trần Thị Nga *Tôn Nữ Như Hảo *Nghiêm Thị Kim Ngân *Huỳnh Thị Phú *Đặng Thị Thành* Nguyễn Thị Em *Đào Thị Thái *Võ Thị Hồng Đóa *Lưu Thị Lựu *Nguyễn Thị Ái *Châu Thị Yến Loan.

(Cô Phan Thanh Gia Lai)

Trần Thị Nga

Tôi nhớ, năm tôi thi đậu vào đệ thất trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng, học lớp do thầy Trần Trừu làm giáo sư hướng dẫn, Bố Mẹ tôi thuê một căn nhà cho anh em chúng tôi có chỗ yên tỉnh để đi học, không bị chi phối bởi việc buôn bán của gia đình. Nhà thuê nằm sát một khu vườn ngay góc đường gần Ngả Năm. Khu vườn thuộc loại kín cổng cao tường, trong sân trồng chanh, trồng hoa lài, trồng hoa ngâu, nuôi cá vàng… mà thuở ấy tôi đã đôi lần vào vườn theo ngõ sau do một bạn trạc tuổi với tôi tên Minh ở trong nhà này rủ rê.

(thầy Trần Trừu)

Sau này anh em chúng tôi dọn về ở đường Nguyễn Thị Giang.

Mãi cho đến năm lên lớp Đệ Tam A, ban Pháp Văn, Luật Sư Trương Thị Thúy phụ trách, do tình cờ tôi mới biết rằng có một người bạn học cùng lớp ở trong khu vườn ngày xưa ấy là Trần Thị Nga. Lớp đệ tam tôi học năm ấy có thêm một số bạn mới trúng tuyển vào, trong đó có Lâm Phát Thuận, Trần Thị Nga …dân Nguyễn Công Trứ. Tôi kết bạn với Thuận, đôi ba lần thấy Thuận nói chuyện với Nga nên mới biết Nga.

Bọn học trò chúng tôi thuở đó, con gái con trai học chung lớp, tuy ít khi nói chuyện với nhau, nhưng vẫn xem nhau là bạn, hỏi tên là nhớ ra khuôn mặt ngay hay xem ảnh thì nhớ đến tên chẳng sai.

Theo bản đồ lớp xa xưa, Nga ngồi bàn đầu tiên bên cạnh Phan Thị Thu Hà.

Nga có mái tóc uốn cong thả dài, phảng phất chút gì liêu trai, khuôn mặt với làn da trắng, trông rất hiền lành, đi học thường đội nón lá, quai nón màu đỏ. Tôi để ý, Nga ít nói và có nụ cười mím chi, nghĩa là không cười toe tóet miệng như nhiều người. Nụ cười mím chi của Nga để lộ ra phần nào chiếc răng khểnh trắng trắng xinh xinh.

Cuối năm Đệ Nhị A chúng tôi thi Tú Tài 1 tại Đà Nẵng. Ngày đi xem bảng, tôi và Trương Công Siêu thả bộ đến trường, cả hai đứa đều có tên trên bảng vàng. Trên đường về, khoảng ngang một nhà Hộ Sinh tôi không nhớ tên, chúng tôi gặp Nga ngược chiều, nón lá, áo dài trắng, đi bộ lên trường xem kết quả. Nga hỏi tôi, “Nga có tên thi đậu không?” Không do dự tôi trả lời: “Nga thi đậu rồi”. Nghe xong, nói cám ơn, thế là Nga, đằng sau quay, te te đi về nhà một mạch, chả thèm lên trường xem bảng nữa.

Trương Công Siêu cật vấn tôi: “mi có thấy tên Nga không mà mi nói chắc như đinh đóng cột rứa?””Ừ ừ ừ…tao không nhớ rõ”, rồi tôi ngụy biện: “mà Nga học giỏi nên chắc chắn không thể rớt được”. Trương Công Siêu cằn nhằn: “Cụ mi nói rứa mà nghe được, thôi trở lại trường dò bảng lần nữa cho chắc ăn đi cha nội”.

Trên đường trở lại trường, tim tôi đập dữ dội, tiếng tim đập cơ hồ như tiếng thùng thùng của trống ngũ liên. Vừa đi vừa khấn xin cho tôi đừng nói sai, đúng là cái miệng làm hại trái tim. Xem bảng xong, được thể tôi nói thánh nói tướng với Siêu: “thấy chưa, tao đã nói rồi mà, Nga học giỏi nên không thể rớt được, mi làm mất thì giờ qúa.”

Trong nỗi vui và mừng, chúng tôi ghé vào nhà Nga, cho Nga biết đa số những bạn trong lớp Nhị A đều trúng tuyển cả. Ngoài hàng hiên có mấy tay đang dợt bóng bàn, tôi thích thú đứng xem, rồi được mời vào đọ sức. Tôi đánh với Lược, không biết có phải vì hậu chứng của tim đập mạnh không hoặc “kỵ rơ” mà bị hạ tơi bời hoa lá, lượm banh lia chia. Tôi xổ hết những ngón nghề của một tay cựu vô địch bóng bàn trường tiểu học năm xưa nhưng chẳng hiệu quả cho lắm.

ACLuocHanh4

(Lược : cao thủ bóng bàn năm xưa) 

Sau đó, tôi sực nhớ gia đình này là gia đình thể thao, có máu võ biền, có Thao, có Lược, có Dũng… Trần Trí Dũng, học trò cưng của Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Đăng Ngọc, là tay bóng tròn nổi tiếng của Phan Châu Trinh và sau này Trần Trí Dũng, sĩ quan Nhảy Dù QLVNCH, đã anh dũng hy sinh cho Tổ Quốc trong trận Đồng Xòai để lại nhiều nhớ thương và luyến tiếc của bạn bè Thầy Cô.

Trương Công Siêu thấy tôi thở hổn hển, mồ hôi ướt đẫm áo, cảm thông nên mời tôi đi ăn chè đậu đỏ nước đá ở Ngã Năm.

Sau kỳ thi tú tài 1 và 2, bạn bè chúng tôi như những cánh chim tung bay khắp bốn phương trời. Cánh cửa Đại Học mở rộng, có bạn theo Y Khoa, có bạn học Dược, hay Khoa Học, Văn khoa, Luật Khoa…Có những bạn xếp áo thư sinh vào Quân Trường “thỏa chí làm trai” theo các binh chủng, Hải quân, Không Quân hay Bộ Binh với hình ảnh “người thủy thủ lênh đênh trên biển cả, chàng phi công lơ lửng giữa không trung, lính bộ binh lẩn thẩn trong rừng sâu…” ( trích DĐSH Một Thời Phan Châu Trinh, bài Phương Hướng và Địa Bàn do Thầy Nguyễn Trung Hối dạy)

Cũng đã mấy chục năm rồi, sau cái ngày đất nước tang thương, tù tội với gông cùm … và cuối cùng Trời thương nên tôi vượt biên đến đuợc bến bờ tự do. Qua Internet, con "chuột" đưa tôi đi khắp nơi và tôi đã gặp lại nhiều bạn bè “Một Thời Phan Châu Trinh Đà Nẵng” .

Tôi vào diễn đàn Dược Khoa, biết được Trần Thị Nga, có đấng phu quân là anh Thiện, một tay giỏi toán khét tiếng. Thiện Nga bây giờ là Giám Đốc của “HOVIET LEARNING CENTER”. Nếu kể những bạn tuổi nhỏ nhất trong lớp, ngoài Bùi Thị Hồng Vân ra, hình như còn có Nga. Nga và Thiện có các con, con trai tên Đông Hải, con gái tên Nam Hà …công thanh danh toại như đa số bạn bè Phan Châu Trinh khác nơi đất khách quê người. Còn Hồng Vân, tuy bị coi là “trẻ nhỏ” hồi đó, nhưng “tài cao” nên đã lên chức bà ngoại sớm nhất và có ba cô con gái, Hạnh-Huyền-Hà, đều hành nghề Nha Sĩ.

(Nga, Hồ Việt Nam-Hà, Thiện, Hồ Việt Ðông Hải)

(Nha sĩ Hạnh, Nha sĩ Huyền, Nha sĩ Hà)

Như Hảo

Trong lớp, ngồi gần bàn tôi có Kh., người bạn thâm niên. Tôi và Kh. có một thời gian sinh hoạt trong Hướng Đạo, cùng nhóm với Lý, thuộc Đạo An Hải. Mỗi lần Kh. đến nhà tôi, chỉ cần nghe tiếng huýt gió bài “hướng đạo ca” ngoài cửa, tôi biết ngay có Kh. đến.

Tôi nhớ năm Đệ Lục thì phải, đến giờ Lý Hóa của Cô Kim Đính, tôi và Kh. cùng đa số các bạn khác…thường chia nhau những miếng quế, cắn tách tách trong lớp cứ như chuột đang nhấm gạo hay gặm các hạt khô. Quế này xin được của nhà Phương Nga, có bố mẹ làm chủ đại bài Quế. Cô Đính đi xuống, chúng tôi ngưng ăn. Cô Đính đi lên, chúng tôi lại tiếp tục. Thỉnh thỏang cô giáo quay lưng lại bất thần nhưng chẳng hề bắt quả tang được trò nào cả vì mỗi lần cô đi lên, chúng tôi theo dõi từng bước chân âm thầm của cô. Cô kêu đứng dạy trả bài, chúng tôi dấu miếng quế dưới lưỡi hay trong hốc má một cách chuyên nghiệp nên nói năng không ngọng ngịu. Cô Kim Đính thật dễ thương mà lại hiền lành, chẳng bao giờ nhẫn tâm bắt chúng tôi lè lưỡi ra để xét cả. Sau cái hôm cô Kim Đính vào lớp, thay vì giảng bài ngay, với giọng ngẹn ngào cô khen lớp chúng tôi có nhiều học sinh ngoan ngoãn nhất trường, và đặc biệt cái lớp học này thơm mùi quế quá. Từ đó trở đi, lớp học bặt tiếng kêu tách tách và mùi quế bay bỗng đi đâu mất, chả hiểu vì sao!

(Cô Kim Đính)

Tính tình của Kh. hiền lành, chân thật. Kh. thích chơi thể thao, từ bóng bàn, bóng chuyền, bóng đá, vũ cầu…đều biết cả. Kh. ca hát và đánh đàn rất vui nhộn. Một hôm Kh. rủ tôi đến nhà Như Hảo. Nhà Hảo cạnh nhà anh bạn tôi, tên Lợi, làm Thông Dịch Viên Đồng Hóa. Chúng tôi theo kế hoặch đi vòng. Cũng may hôm ấy Lợi đang nghỉ phép ở nhà, chúng tôi vào thăm, ra sân đứng dưới tàn cây soan nói chuyện cho mát. Chợt thấy Hảo bên hàng rào, hình như Hảo mới gội đầu xong, đang ngồi hong tóc dưới nắng vàng. Kh. vẫy tay, được Hảo mời sang nhà, Kh. mừng hết lớn. Trong lớp tôi, theo tôi thì Như Hảo có mái tóc thề đẹp nhất, óng ả, mềm mại, buông lững qua bờ vai. Tôi nói với Kh., Hảo có “mái tóc dạ hương”. Tôi biết rõ tim đen tim đỏ của Kh. từ hôm ấy. Mỗi lần nói về Như Hảo, Kh. tâm sự với tất cả thổn thức của con tim. Đến năm đệ nhất, Hảo không còn để tóc thề nữa, thay bằng mái tóc uốn cong thả dài.

Thường thì khi tôi và Kh. nói chuyện, gọi nhau bằng tên rất thân thiện, nhưng một hôm Kh. gọi tôi là “bạn” và xưng “Kh.” với khẩn khỏan: “Có chuyện này, chỉ có bạn mới giúp Kh. được thôi. Đưa giùm cái thư của Kh. cho Hảo”. Tôi tính buộc miệng kêu lên: “Ê đưa tao coi thư trước cái đã…” nhưng ngăn kịp thời vì nghe giọng nói của Kh. đầy xúc cảm và chân thật.

Tôi thực hiện “phi vụ đưa thư” rất nhanh, rất gọn. Thấy Như Hảo dưới sân trường, từ Văn Phòng Hội Đồng Giáo Sư tôi bước xuống tầng cấp, vụt một cái tôi đến gặp Hảo, lúc đó tay Hảo đang cầm cuốn sách Quang Học của tác giả Lê văn Lâm. Tôi vội cầm lấy sách của Hảo và kẹp thư vào rồi nói “có cái này của Hảo đây”, xong tôi biến mất, không kịp nhìn phản ứng của Hảo như thế nào.

Tôi đã kể lại cho Vũ Văn Long chuyện tôi đưa thư của Kh. cho Như Hảo, tưởng như khoe được một thành tích vẻ vang, nào ngờ Long hét lên, tiếng hét của một tay võ giỏi quá lớn đến nỗi Mẹ tôi tưởng tôi và Long có chuyện xích mích to.

(Vũ Văn Long)

“Sao mày dại thế. Mày dã man thế. Nhỡ vài hôm nữa mày nhớ “mái tóc dạ hương” ấy thì ai giúp mày đây.” Rồi Long ngâm nháy nháy hai câu thơ:

“Biết đâu trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ yêu mình chẳng nói ra”.

Lúc tôi kể, có mặt cả Trần Nhật Ngân, tác giả “Tôi đưa em sang sông”. Ngân nói vào: “tốt với bạn như thế, có một không hai đấy nhưng đừng tưởng bở mà nghe lời ông Long. Bạn đưa giùm thư cho người ta không sao, chứ bạn đưa thư của bạn, biết đâu bị trả lại thì thế nào đây?” Rồi Ngân nói bâng quơ: “nếu thương ai, tại sao không đủ can đảm cầm tay người ta mà tỏ tình nhỉ.” Tôi đùa ngay: “tớ bị yếu tim không những thường xuyên mà còn liên tục nên khi yêu ai chắc chắn tớ không làm được chuyện đó rồi!”. Cả ba chúng tôi cùng cười ầm lên. Chúng tôi cũng đồng ý với nhau rằng, các bạn nữ sinh Phan Châu Trinh không những đẹp mà còn nhu mì, số “hiền như ma soeur” nhiều như sao trời, số “hiền hơn ma soeur” có thể đếm trên đầu ngón tay nhưng tuyệt nhiên mờ con mắt cũng không thể tìm ra được một “bà chằng lửa”.

(Nữ sinh Phan Châu Trinh)

Tôi không biết ai nói đúng nữa, Long? hay Ngân? Cả mấy tuần, trong lớp học tôi theo dõi Hảo nhưng không thấy Hảo nói năng gì cả.

Chuyện của thời đi học đã hơn bốn chục năm trời rồi, mỗi lần nhớ đến là mỗi lần tôi thấy thế nào ấy và tự vấn tại sao tôi lại làm như vậy hay vì ma dẫn lối quỷ đưa đường chăng. Tôi mong có dịp xin lỗi Như Hảo và vẫn cứ tưởng tượng người bạn dễ thương Như Hảo sẽ cười rồi nói với tôi “có lỗi gì đâu mà phải xin”.

Nghiêm Thị Kim Ngân

Bạn thân của Hảo là Nghiêm Thị Kim Ngân. Cuối tuần trên phố, khi nào thấy Hảo là thấy Ngân. Dáng người Ngân rất thanh thanh, có nét ẩn hiện trong bản nhạc Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn “…dáng em gầy gầy...tóc thề nhẹ bay”. Ngân nói giọng Bắc rất chuẩn và thanh lịch. Nếu làm cô giáo, Ngân đọc chính tả cho học trò, chắc chắn chẵng có trò nào viết sai Hỏi Ngã được …Tính tôi hay đùa nhưng với Ngân, khi nói chuyện tôi rất nghiêm trang, cứ như bị cái tên của Ngân ám ảnh: Nghiêm Thị Kim Ngân.

Huỳnh Thị Phú

Tôi gọi Huỳnh Thị Phú là chị Phú. Coi như là người chị, phần vì quen với Huỳnh Lô, em của chị Phú, phần vì hồi đó ai cũng biết Phú là đóa hoa đã có chủ, đã đám hỏi rồi, nên cho lên chức “Chị” là vừa. Vào mùa lạnh Chị Phú đến lớp thường khoác thêm áo len màu tím đậm, quai nón cùng màu với áo khoác, mang hình ảnh mỹ nhân đứng cạnh cây Hải Đường mà tôi nhìn thấy trong các bức tranh Tàu.

Đã mười mấy năm rồi, hồi mới chuyển về Florida, nghe bạn bè nói Chị Phú được Võ Thị Hồng Đóa bàn giao cho một số ảnh chụp trong lớp năm xưa để scan và gởi cho bạn bè làm kỷ niệm. Tôi xin số điện thọai, gọi mấy lần mới gặp và nói chuyện được với chị, chị hứa sẽ gởi cho tôi. Ngày qua, tháng qua, năm qua, chẵng nhận được tấm hình nào cả. Chị cứ hứa nhưng chị đừng nhớ nhé. Tôi gọi điện thoại lần nữa, tôi giả giọng một người già, chị Phú hỏi ai đó, tôi xưng tên, chị Phú nói ngay: “sao nghe giọng già quá vậy”. Tôi xạo liền: ”già là đúng, tôi hơn Phú tới sáu tuổi lận. Hồi xưa chạy giặc về, đi học trễ nên Papa tui khai lại giấy khai sanh chứ tui đâu có trẻ mọn gì”. Tôi còn nói kháy: “đã vậy, còn chờ mấy tấm ảnh chị scan không thấy nên già người đi đó”.

Một hôm, tôi đi làm về, Bà xã cho biết, tôi trúng “mùa điện thọai”, có ba người bạn Phan Châu Trinh gọi hỏi thăm trong cùng ngày. Người đầu tiên, chị ấy xưng tên Huỳnh Thị Phú. Bà xã tôi thắc mắc”nói chuyện với em, chị ấy đã nhiều lần gọi anh là “thằng”. Chắc hồi đi học, trong lớp anh không lịch sự cho lắm phải không? “

Thôi rồi, chắc chị Phú biết tôi xạo đóng vai ông già kỳ trước nên kỳ này gọi lại là “thằng” cho hắn biết tay. Tôi nói với bà xã:”nếu em mua rượu, mua bia hay thuốc lá mà người ta yêu cầu xuất trình Bằng Lái Xe để bào đảm em đã quá tuổi vị thành niên thì em vui hay là buồn?” Với anh, anh sẽ vui vì người ta thấy anh còn trẻ. Chị Phú kêu anh là “thằng”, anh rất vui vì anh thấy anh trở lại sống thời đi học năm xưa, đang vui chơi với bạn bè, trong đó có cả em trai của chị Phú khi chưa gẫy cánh bay.

(Phái Đòan PCT tham dự thể thao.
Dẫn đầu, từ trái qua phải: Hùynh Lô (đã mất), Tâm, Cao Ngọc Trãn)

Vợ tôi nói tiếp: “người thứ hai, từ Pháp gọi, nói năng lịch thiệp là Lê Quang Thục Nhi. Em và Nhi đã nhắc nhiều kỷ niệm về Huế.”

Người thứ ba là Thượng Tọa Thích Tịnh Đức.

Tôi hỏi bà xã: “vậy Thục Nhi và Thầy Tịnh Đức gọi anh là gì?” Bà xã tôi cho biết:”nói về anh họ kêu tên anh mà thôi”. Tôi vội vàng chêm thêm, và cũng để chứng tỏ rằng mình nắm rõ ngày sanh tháng đẻ của Nhi và Thầy tịnh Đức, “kêu tên là phải vì Thục Nhi sanh sau anh nửa tiếng đồng hồ, còn Thượng Tọa chỉ sanh trước anh có một tiếng thôi. Em nghĩ sao, khi gặp Thượng Tọa, một điều hai điều anh sẽ thưa “Thượng Tọa” và xưng “con” có được không?”

Tôi còn nói với bà xã, Thầy Tịnh Đức hầu như cứ một hai tháng đều gọi điện thọai để "điểm danh" xem bạn bè tên nào "ra đi" thì Thầy sẽ làm lễ "cầu siêu" cho.

Vợ tôi cười nắc nẻ rồi kêu lên: “ông Dôn tui ôi là ông Dôn tui ơi!”

Tôi nhớ, có một lần tôi nói đùa về vụ " cầu siêu" như thế với một cặp vợ chồng Đồng Khánh- Quốc Học, tôi bị phản ứng mãnh liệt của chị bạn : "bọn mình kính trọng Thầy Tịnh Đức vô cùng, mình không muốn bạn đùa như rứa, cảnh cáo bạn đó nghe chưa "

Đặng Thị Thành

Tôi bảo đảm trong lớp tôi chưa ai có giọng nói ấm áp và ngọt ngào như Đặng Thị Thành. Một lần tôi thấy trên trang mạng trường xưa nào đó, tấm hình của Thành, ngồi xụp bên cạnh Tố Nga, rõ ràng là Thành nhưng không hiểu sao tác giả lại ghi chú “Cô Mộng Liên”. Tôi biết chắc là Đặng Thị Thành vì cái đầu tóc xoăn không lầm vào đâu được. Trong lớp tôi, có ba người tóc xoăn là tôi, Võ Văn Mại và Thành, kỳ dư những người khác tóc xoăn vì “phi dê” mà thôi. Người ta nói, dân tóc xoăn khó bị lừa. Không biết hai bạn Mại và Thành như thế nào chứ phần tôi, nghe Cọng Sản phỉnh “vài tuần học tập” chúng tóm được cổ tôi ngay. Sau thời gian dài mếm đủ vị cơm tù, nước tù, ghẻ tù, cùm tù…tôi vượt biên đến TháiLan. Tháilan ôi bờ Tháilan ! Chỉ vỏn vẹn sống một tháng rưởi trong trại tị nạn, tôi may mắn được lăn tay chụp hình đi định cư. Nhìn ảnh mình trên hồ sơ mới thấy mái tóc mình thẳng re không còn xoăn như ngày xưa nữa.

Nguyễn Thị Em

Tôi gặp Nguyễn Thị Em trong sân trường Luật. Em học Dược nhưng hôm ấy đi cổ võ tinh thần cho người bạn vào thi vấn đáp. Hồi xưa trong lớp, Em ít nói, hiền hậu, lúc nào cũng tươi cười trông thật dễ thương. Mỗi lần thấy Nguyễn thị Em là mỗi lần tôi nhớ chữ "Mignonne" trong bài thơ của Pierre de RONSARD mà bạn Vũ Văn Long thường ngâm nga:  "Mignonne, allons voir si la rose, Qui ce matin avoit desclose...". Nhìn vào phòng thi, tôi biết chàng ta đang thi môn Tài Chánh Công của Giáo Sư Lê Đình Chân. Thấy khuôn mặt Nguyễn Thị Em lo lắng thật tội nghiệp. Nụ cười vô tự lự ngày nào của người bạn cùng lớp đã biến mất đi rồi. Tôi nhủ thầm, người leo trên cây không sợ té mà người đứng dưới đất lo té. Sau đó, nghỉ lại thấy Nguyễn Thị Em lo lắng cũng đúng vì “trai thời chinh chiến” thi hỏng, cổng quân trường mở rộng đón nhận ngay. Đó là chưa kể, ông Giáo Sư Lê Đình Chân, có khi hỏi vấn đáp chỉ hỏi vài giòng ghi chú trong cuốn sách dầy cộm mà thôi, nếu không để ý thì sẽ á khẩu ngay.

Đào Thị Thái

“Cô Bắc Kỳ nho nhỏ”, cái biệt danh mà bọn tôi chọn cho Đào Thị Thái. Chả hiểu lúc bấy giờ Thái có biết hay không. Thái có khuôn mặt dễ thương, mái tóc búp bê, nụ cười rất tươi, giọng nói pha ít nhiều nhõng nhẽo. Một lần đạp xe ngang nhà Thái, thấy Thái ở ngoài sân, tôi ghé vào nói chuyện. Chúng tôi đứng ngoài sân chuyện trò vui vẻ. Anh chàng hàng xóm, học Bán Công chạy sang góp chuyện, giọng rất nặng của anh bạn làm tôi cứ đứng nghệch mặt ra, khiến Thái đã nhiều lần nói với tôi “Đừng để ý gì hết!”

Tôi nhớ mãi cái hàng dậu nhà Thái có những bụi hoa cúc vàng chói lọi, xinh tươi. Hồi còn ở trại tù Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, trong “lán” có anh bạn tù buồn đời cất tiếng ca:

“chỗ em đứng đợi anh ra,
bây giờ thiên hạ trồng rau muống rồi”

Tôi phê bình gay gắt. Cả đám cười và có người nói: “nó hát nhạc “chế” cho vui mà, chứ thật ra “hoa cúc vàng chứ đâu phải rau muống rồi”. Mầy vừa lòng chưa?” Mấy chữ “hoa cúc vàng” làm hiển hiện trước mắt tôi hình ảnh hàng dậu nhà người bạn tên Thái năm xưa.

Thuở ấy, trong lớp tôi nói chuyện với những người bạn gái rất tự nhiên, có lẽ vì không có tình ý gì hay ít tình ý hay chưa tình ý hoặc là dối lòng khéo quá khiến chẳng ai biết được những "tình yêu thầm kín" đầu đời của mình.

Do tình cờ, trên chuyến máy bay Đà Nẵng Saigòn, tôi gặp Thái. Lúc ấy tôi đi cùng với bà xã mới cưới của tôi. Dãy ghế trên máy bay có ba chỗ, tôi ngồi phía ngòai, bà xã ngồi giữa, trong cùng là Thái. Khi máy bay đã cất cánh, hành khách không cần gài giây an tòan nữa, bà xã tôi bóc quýt mời Thái ăn nhưng Thái chỉ cám ơn, nhất định không nhận. Tôi lấy phần quýt của tôi, tôi mời Thái, Thái vui vẻ nhận, ăn ngay và khen ngọt. Tôi chẳng thấy bà xã tôi nói gì cả. Câu chuyện tưởng như chỉ vớ vẫn như thế thôi, nào ngờ nó lại rắc rối mới chết chứ. Khi về nhà, đêm hôm ấy, là một cặp vợ chồng mới cưới, tôi không được ngủ chung giường với vợ mà phải nằm chèo queo ngoài sa lông. Lý do, vợ tôi hỏi: “tại sao Thái không ăn quýt của em mời mà chỉ ăn quýt của anh mời”. Tôi gân cổ, “ơ hay, sao em không hỏi thẳng “cô ấy” trên máy bay mà bây giờ mới hỏi anh, em nghĩ ngợi lung tung là oan cho Thị Mầu đấy nhé !”. Tôi đã nói đùa không đúng lúc nên mới sanh chuyện. Cũng tại cái miệng làm hại tấm thân tôi “một đêm dài đau lưng mỏi cổ”. Đáng đời ! Lỗi vì tôi “học mà không hành” câu proverb tiếng Pháp mà Thầy Nguyễn Bá Việt đã dạy năm xưa “Il faut tourner sept fois sa langue dans sa bouche avant de parler”.

(Thầy Nguyễn Bá Việt)

Đã lâu rồi, có lần đọc đoản văn “Khói Tết” của Đào Thị Thái viết, dưới bút hiệu Kim Hài. Tôi không nhớ nội dung nhưng chỉ hai chữ”Khói Tết” thôi đã làm tôi cảm thấy cay cay mắt thế nào ấy. Tha hương đã mấy mươi năm rồi, mỗi độ xuân về, trên đất khách quê người…bánh chưng, trà, mứt, hoa mai, hoa đào, bao lì xì…cái gì mà chả có, ấy thế mà đến ngày Tết, đố ai tìm được cái “khói tết “ tỏa trong không gian của ngày xưa ấy.

Tôi nhớ, năm đệ nhất A, để có chút gì lưu niệm cho tuổi học trò, Thầy Nguyễn Thanh Trầm, giáo sư hướng dẫn của chúng tôi, có đề nghị lớp làm một tờ Báo Xuân .

(Thầy Nguyễn Thanh Trầm và Thầy Đặng Như Đức)

Tôi được phân công đánh máy câu chuyện giả tưởng của Nguyễn Hữu Lân, người bạn rất hiền lành, học rất chăm và rất giỏi. Thuở bấy giờ việc ấn loát còn đơn giản, phổ thông nhất là lối quay ronéo. Ngồi gõ lọc cọc bằng phương pháp “deux doigts” bài viết của Lân trên giấy stencil rồi giao cho bạn Ngọc phụ trách in. Câu chuyện giả tưởng của Lân, có đọan nói Tổng Thống Kennedy bị ám sát. Quả thật lạ lùng, chỉ hơn ba hay bốn tháng sau khi Báo Xuân trình làng, Tổng Thống Kennedy đã bị giết chết thật. Nếu bài báo này đăng ở Mỹ, chắc chắn Nguyễn Hữu Lân sẽ bị đám phóng viên vây quanh hỏi tại sao Bác Sĩ Lân có thể tiên đoán được như thế, và không chừng FBI, CIA sẽ hỏi dăm ba điều.

Tôi còn đánh máy câu chuyện đường rừng của Vũ Văn Long, nội dung có người đàn bà tên Krai, giúp người tù bị sốt rét đang lẫn trốn. Chuyện thật trùng hợp. Những ngày trốn tù, không bắt được liên lạc, chẳng thể chờ lâu hơn, tôi đành phải di chuyển đến một nơi khác. Tôi sống trong rừng như một con vật, bỗng dưng gặp một người đàn bà miền núi tên Krai đã giúp tôi vượt qua cơn bệnh sốt rét bằng lọai thuốc do bà ta nấu. Bà Krai còn chỉ cho tôi một loại sâm đất, đào lên lấy rễ, rửa sạch và nhai nên tôi gượng sức khá nhanh. Vài ba hôm bà ta lại bới thức ăn cho tôi, khoai mì hay khoai lang luộc và ít muối gói trong lá chuối, dấu ở lùm cây gần bờ suối…cho tới ngày tôi "đến số". Tôi bị rượt chạy muốn tắt thở, bị chém bằng rựa trúng vào đùi, ngã qụy, hết đường thoát. Ấy mà cuối cùng, cái nhẫn bằng vàng tây dấu trong lai quần là bùa hộ mạng đã cởi trói cho tôi. Nhớ đến hình ảnh bà Krai, ân nhân của tôi, nước da đen đủi, bàn tay dính bùn dính đất nhưng có cả một tấm lòng vô cùng nhân hậu mà tôi muốn khóc. Bà Krai ơi, bà Krai ơi, ơn này tôi mang suốt đời.

Đến hôm nay, tôi vẫn không hiểu tại sao có những việc xảy ra đúng với những chuyện tôi đã đọc. Hình như người xưa có nói “văn người mà vận vào mình”, có phải thế không nhỉ?

Nhắc đến chuyện tù cải tạo, tôi nhớ khoảng mười mấy năm trước đây, nói chuyện với bạn Trần Đình Thắng, qua điện thọai bạn ta cho biết hồi đi tù, có ở chung trại với một số bạn bè Phan châu Trinh và cả với một số thầy dạy học như Thầy Tổng Giám Thị, Thầy Mai...

Phần tôi, khi ở trong Nam lúc chuyển từ rừng Katum về, chỉ gặp mỗi một người bạn PCT tên là Nguyễn Đôn Hòan mà thôi. Bạn Hòan học cùng lớp với em trai tôi. Nhớ trên chuyến tàu tù bị giải từ đất liền ra Phú Quốc, khó mà quên cảnh tượng hãi hùng dưới hầm tàu đen tối, tù chen chúc nhau ngồi ngay trên sàn hầm, lấp xáp nuớc tiểu pha với nước phân. Nếu hải trình chuyển tù này chỉ cần kéo dài thêm hai ba ngày nữa, chắc chắn bọn tù chúng tôi sẽ chết vì bịnh dịch. Tôi đứng trong một góc, bon chen dành được "chức vụ" giữ một robinet để phân phát nước, từ nhỏ giọt cho đến hết giọt. Tôi thấy tận mắt, bạn Nguyễn Đôn Hòan đang trên chiếc thang tre leo từ hầm tàu lên bong tàu, tay cầm một cái "xô" hình như để xin nước, khi gần tới nơi, đã bị tên bộ đội dùng báng súng khụi vào đầu, Hòan đã rớt xuống như một vật rơi tự do. Khi lên đảo rồi, bạn Hòan cho tôi biết cái "xô" mà bạn ta cầm không phải là để đựng nước mà là "xô" đang đựng phân, đem đi đổ. Tôi không muốn nói thêm gì nữa về cái xô đựng phân năm xưa ấy .

Nhắc đến bạn Nguyễn Đôn Hòan, tôi nhớ đến con cá khô. Lần tôi bị giam ở Conex, một nửa chôn ngầm dưới đất, với nhiệm vụ anh nuôi, Hòan được cắt cử đưa cơm cho kỷ luật. Hôm đó thấy tôi nằm ngẹo đầu trên một đống máu, Hòan đã nói với giọng nghẹn ngào : "cố lên, đừng chết nghe". Sau đó tôi nghe tiếng quát tháo của tên quản giáo, "nhanh lên, nhanh lên" và rồi tiếng cửa Conex xích lại. Khi gượng dậy ăn , tôi đã tìm thấy một con cá khô nhỏ mà Hòan giấu dưới cơm. Tôi đã "thanh tóan con cá tòan bộ và triệt để", kể từ xương cá cho đến vẩy cá, ngon nhất là con mắt cá, nó bùi làm sao ấy. Tôi vừa ăn vừa cảm động nhớ đến giọng nói Quảng Nam khụt khịt của người bạn tù đã từng học chung trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Hòan là người chứng kiến cảnh rùng rợn trong lao tù mà tôi được phép lạ cứu thoát. Chúng tôi chia tay từ đó nhưng trong thâm tâm của Hòan, tôi đã chết rồi. Gặp các em tôi tại Hoa Kỳ, Hòan có nhắc chuyện Hòan và tôi chung trại tù . Các em tôi cho Hòan biết tôi vẫn còn sống, Hòan đã bật khóc vì không thể tưởng tượng có chuyện đó được và rất vui mừng cho tôi.

Nguyendonhoan6thang9nam2010

Nguyễn Đôn Hòan, mặc áo sọc, đứng phía trái 

Vương Uyên (Sao Mai) cho tôi biết, cặp vợ chồng Phan Châu Trinh- Bồ Đề, Nguyễn Đôn Hòan, pháp danh Minh Bửu và bà xã pháp danh Thân Từ thường xuyên làm từ thiện và công quả. Chị Thân Từ rất giỏi về các món chay, là đầu bếp chính đã điều khiển một dàn phụ bếp, cung cấp hơn bốn trăm phần ăn chay cho Phật Tử tham dự cắm trại trong mùa hè 2012 vừa qua.

MinhBuu

Vợ chồng Nguyễn Đôn Hòan chụp chung với gia đình Vương Uyên, 2012.

Võ Thị Hồng Đóa

Tôi chỉ gặp lại Hồng Đóa có một lần tại Sàigòn năm tôi còn ở Đại Học. Ngay tại góc đường Trần quý Cáp, trước Trường Y Khoa xưa, xuống trạm xe búyt, băng qua kia đường, tôi gặp ngay Hồng Đóa. Đóa cho biết đang học Dược, nên sau này nghe tin Đóa hành nghề Dược Sĩ, tôi chẳng ngạc nhiên vì nhớ trong lớp Đóa học chăm và giỏi. Cái ngạc nhiên là ngày xưa, theo tôi nhận xét Hồng Đóa rất im lặng mà ngày nay theo bạn bè cho biết Đóa hồn nhiên, láu lỉnh, đùa nghịch và có câu chuyện rất tiếu lâm mang tên “Em Hết Biết...”, một thiếu sót lớn cho những ai chưa được nghe. (Dư Âm ngày Đại Hội /Thi Vân)

Lưu Thị Lựu

Lưu Thị Lựu trầm tư và có cặp mắt sũng buồn. Nguyên tác chữ "sũng buồn" là của Vũ Văn Long. Lựu để tóc dài và dùng kẹp ba lá. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với Lựu. Chỉ nhớ có một lần, trưởng lớp Võ Văn Đức trong giờ học, nhờ tôi chuyển lại cuốn vở cho Lựu, thế thôi. Sau khi tôi chuyển rồi thì Huỳnh Ngọc Tài cứ nhìn tôi rồi nhìn sang Võ Văn Đức mà tủm tỉm cười, tôi muốn hỏi cho ra chuyện nhưng chẳng phát hiện ra được điều gì cả.

Huỳnh Ngọc Tài là bồ tèo từ tấm bé, chung lớp chung trường suốt bậc Tiểu Học với tôi, rồi lại gặp nhau ở Trung Học nữa. Tôi khó quên được nụ cười hiền lành của người bạn có khuôn mặt chữ điền, tóc phủ trán. Hồi ở Saigòn, chờ khóa huấn luyện, Tài có đến thăm tôi vào dịp Tết. Hai đứa đèo nhau trên chiếc Honda đi chơi. Có đi Lễ ở Lăng Ông với nguyện cầu cho tương lai. Chúng tôi nhắc lại chuyện thuyết trình đề tài "Thơ Mới" trong giờ Việt Văn hồi năm đệ tam. Thầy Lâm Sĩ Hồng chỉ định Tài làm trường toán. Ngày thuyết trình, đứng trên bục giáo sư, Tài đã mở đầu : "Gọi là thơ mới, nó mới vì nó không cũ" làm cả lớp cười rộ. Đến phần phê bình, một bạn dưới lớp đã ghi nhận được trong thơ trích, Tài đã đọc sai nhiều đoạn. Với tư cách là toán viên, tôi đã đứng dậy đỡ đòn : trong văn chương thi phú có chuyện "tam sao thất bổn". Cứ tưởng là cứu bồ không ngờ cả lớp cười ồ thêm một lần nữa. Nhắc lại, hai đứa cùng cười ngắt nghẻo. Ai ngờ đó là lần gặp mặt cuối cùng trước khi Huỳnh Ngọc Tài gãy cánh đại bàng. Sau này khi hay tin dữ, tôi đến nhà Tài ở Chợ Mới hỏi thăm, lúc đó trên ban thờ chưa có hình của Tài vì gia đình cho biết đơn vị chỉ mới báo tin là Mất Tích mà thôi, vẫn còn hy vọng. Mãi sau này anh Thành, anh ruột của Tài, cho tôi biết đơn vị đã xác nhận Tài "Tử Nạn" trong hành quân.

Hùynh Ngọc Tài
*Ảnh trái: Du ngoạn Mỹ Khê Non Nuớc, Hùynh Ngọc Tài là người ngồi trong cùng.
*Ảnh phải: Tiệc Tất Niên 1964

 

Nguyễn Thị Ái

Một hôm Trần Nhật Ngân, chắc mới lãnh lương xong, rủ Vũ Văn Long và tôi đi quán cà phê trước nhà thờ Chánh Tòa. Quán do hai chị em người Hoa làm chủ, có trà cúc và món bánh ngọt pha rhum tuyệt cú mèo. Nhâm nhi, nói chuyện trời trăng mây nước cũng khá lâu, rồi Ngân cho biết mới đọc bài thơ “Hờ Hững” của Tuyết Ái và muốn phổ nhạc bài này:

"Cành pensée tim tím,
hoa pensée thanh thanh,
tóc ai màu nhung nhớ,
mắt ai màu xanh xanh… " (thơ Tuyết Ái)

Tôi nhận công tác đưa Ngân đến gặp Tuyết Ái. Hồi đó trong lớp, bạn bè gọi Nguyễn Thị Ái là Tuyết Ái, theo bút hiệu mà Ái đã ghi trên một số bài có đăng trên báo. Ái có nước da mặt trắng mịn tự nhiên, cười rất tươi, tóc đen mượt, uốn thả dài, đôi lúc ngồi trong lớp học tay chống cằm, trông rất sầu mộng. Tôi chẳng nhớ lúc nào bút hiệu Tuyết Ái đổi thành Thùy An.

Đúng như hẹn trước, chúng tôi đến nhà Tuyết Ái. Ngân vào đề trực khởi, ngõ ý ngay với Ái là muốn được phổ nhạc bài thơ “Hờ Hững”. Chuyện trò cũng chẳng lâu cho lắm. Chúng tôi được uống nước trà do em gái của Tuyết Ái đem ra mời. Tôi nhớ rõ như thế nhưng bài thơ đề tựa “Hờ Hững” mà tôi cứ nhầm là “Hững Hờ”. Tôi đã thưởng thức rất nhiều bản nhạc nổi tiếng của Nhạc Sĩ Trần Nhật Ngân nhưng chưa bao giờ được nghe bản nhạc “Hờ Hững” lần nào cả.

(Trần Nhật Ngân, tác giả “Tôi đưa em sang sông”)

Trước 1975, hồi còn làm việc ở Đà Nẵng, em gái út của tôi mê đọc Tuổi Hoa, truyện của Minh Quân, Thụy Ý, Thùy An (bút hiệu sau này của Nguyễn Thị Ái), Kim Hài… Thỉnh thỏang tôi cũng đọc ké với em tôi cho vui. Em tôi vào trường khoe với bạn bè và rất hãnh diện vì có ông anh học cùng lớp với nhà văn Thùy An, Kim Hài. Bây giờ, tại Hoa Kỳ, em gái tôi đã có gia đình, có hai con trai học đại học, đứa lớn đang học PhD, thằng em học năm thứ hai , ấy thế mà mới đây gởi cho tôi địa chỉ Báo Tuổi Hoa tìm được trên mạng và mời “ông anh” đọc lại những truyện thuở xa xưa ấy.

“Tuổi Hoa”, “Tuổi Học Trò”…những tiếng nghe quen thuộc đã làm vang lên trong tôi tiếng hát, tiếng đàn cùa người bạn Vũ Văn Long trên căn gác gỗ năm xưa mà chúng tôi đèn sách hằng đêm với những ước vọng và xao xuyến đầu đời:

Thuở học trò còn buồn vu vơ
Thức bao đêm làm thơ rồi đợi chờ
Hoa trắng len vào khung cửa nhỏ
Ngỡ thầm là người thơ qua trong mơ. (nhạc Vọng Gác Đêm Sương/ Mạnh Phát)

và thấy chập chờn đâu đó “bóng dáng ai ”…với hờn với trách:

Gởi Anh một chút lòng thương nhớ
Em giữ phần em một mối tình. (trích Internet, thơ Họa Mi)

Châu Thị Yến Loan

Tôi nhớ, năm học đệ tam, hồi đó Thầy Hướng dạy Công dân Giáo Dục, cô Thảo dạy Địa Chất Học, Thầy Lâm Sĩ Hồng dạy Việt Văn…tôi ngồi cùng bàn với trưởng lớp Võ Văn Đức và gần đó có bạn Đỗ Ngọc Lệ.

Một hôm nhìn qua bàn của Châu Thị Yến Loan, thấy Loan có mấy trái thị, tỏa mùi thơm thật thơm, tôi muốn xin một trái nhưng ngại. Võ Văn Đức hiểu ý của tôi nên xin giùm cho tôi. Đỗ Ngọc Lệ thấy vậy, cười và nói “có được trái thị của BB là quý lắm đó.” Thì ra BB là biệt danh mà Đỗ Ngọc Lệ đã đặt cho Yến Loan.

Nhìn tấm ảnh ngày xưa có mười một người bạn học cùng lớp hồi đó, nếu chỉ chú ý đến những bạn mà sau này làm nghề giáo hay viết văn, tôi có thể kể ra được như: Châu Thị Yến Loan, Nguyễn Thị Ái, Đào Thị Thái, và Đặng Thị Thành.

Trên bàn tiệc tất niên, chỉ có hai loại nước giải khát là “nước cam” và “Coca-Cola”. Thật ngạc nhiên khi thấy rằng “những nhà giáo hay nhà văn tương lai” ấy chỉ chọn uống Coca-Cola mà thôi.

Nhớ lại khi học bài “Cảm Xúc” trong môn Tâm Lý Học, Thầy Hướng đặt ra câu hỏi: “thấy con cọp, sợ hãi, rồi chạy hay thấy con cọp, bỏ chạy, rồi mới sợ?” Cốt lõi của “cái sợ” là chất adrenaline tiết ra. Tôi nghỉ đến chất cocaine trong Coca-Cola và phân vân: “vì thích uống Coca- Cola nên mới chọn nghề giáo, nghề viết văn hay vì sẽ chọn nghề giáo, nghề viết văn nên thích uống Coca-Cola.?” Hỡi những người bạn theo ban “khoa học thực nghiệm” ngày xưa ấy nghỉ gì?

Gần đến một trăm ngày của Mẹ tôi, tôi ngủ không yên, đêm đêm cứ chập chờn, tay rờ lên má thấy nước mắt mình chảy dài lúc nào không hay. Nhớ thương Mẹ, khóc nào vơi! Gần mười tám năm trước đây tôi mất cha và bây giờ tôi mất mẹ.

Mấy tuần trước có người bạn nhắn tin cho tôi biết, trên trang mạng “bạn cũ trường xưa” có những lời chia buồn, nhớ vào đọc.

Cảm động qúa. Cám ơn các bạn đã chia buồn và nguyện cầu cho Mẹ tôi sớm thanh thản nơi chín suối mà tôi không kể hết tên và nhớ hết được. Có bạn Tóan Trưởng Trần Đình Thắng và tòan lớp Đệ Nhất A PCT64. Có cả Thu Hà, Thu Liên, Hoàng Bích Quân, Hồ Thị Minh Châu, Phước Khánh, Trương Đức Thủy….Còn Hồng Vân thì đăng phân ưu trên báo bên Cali.

Ngày tôi còn cắp sách đến trường, Mẹ tôi không những biết bạn bè của tôi mà có khi còn biết cả ba me của bạn bè nữa.

Có lần tôi và bạn Vũ Văn Long đi thăm Thu Hà về, kể lại cho Mẹ nghe, Mẹ tôi hỏi tôi thế thì các con mua quà gì cho bạn con. Tôi chưa kịp trả lời, Mẹ tôi đã nói, Mẹ biết “Măng” của Thu Hà và bác ấy có nét đẹp rất đài các. Mẹ tôi đã dùng chữ “đài các” đúng như Thầy Nguyễn Thanh Trầm nhận xét. Vũ Văn Long, là dân tiếng Anh nhưng bỏ nhỏ với tôi một câu tiếng Pháp rất gọn gàng: “les grand idées se recontrent”!

Trong bửa tiệc vui năm xưa tại nhà Bố Mẹ tôi, Mẹ đã khen Lê quang Thục Nhi có cặp mắt xinh quá, khen Lê Thị Vân giống như búp bê Nhật Bản. Mẹ nhận xét Trương Đức Thủy, bạn cùng lớp của em trai tôi, có dáng dấp võ biền, và thật thế sau này Thủy là Đại Úy Lôi Hổ của QLVNCH, vào sanh ra tử ở chiến trường.

tdt

 

(Trương Đức Thủy, Đại Úy Lôi Hổ QLVNCH)

 

(đứng trong góc là Lê Thị Vân, kế đến Hồng Vân, rồi Thục Nhi)

Một dịp gần Tết, Mẹ tôi vào Saigòn mua sắm gì đó cho Bố tôi và các em tôi. Tôi đi làm về, trong buổi cơm chiều có món bánh tôm Mẹ làm vì biết tôi vốn ưa thích. Có cả bà chị tôi, con bác con chú , đến thăm thím tức mẹ tôi, dùng cơm với cà nhà. Tôi chẳng nhớ từ câu chuyện nào đó đưa đến… mà mẹ tôi, vợ tôi và chị tôi đều biết đến “ tiệm may áo dài bên kia đường Nguyễn Hùynh Đức gần Công Lý của một cô giáo may rất đẹp”. Cô giáo đó chính là Vân, con gái Bác Lộc.

Mẹ tôi cũng có nhắc đến Thầy Thanh, Thầy Tăng… thỉnh thỏang có ngừng lại trước tiệm buôn của Ba Mẹ tôi để nói chuyện, hỏi thăm chúng tôi, những học trò cũ của các Thầy.

(mặc áo trắng, thắt cà vạt sọc: Thầy Thanh)

Mỗi lần hay tin bạn bè hay ba me của bạn bè qua đời là mỗi lần có dịp nhớ lại những kỷ niệm khó quên mà buồn lặng người đi. Được tin Mẹ của Vũ Văn Long qua đời, tôi nhớ mãi hình ảnh một bà mẹ dịu hiền, phúc hậu, giọng Bắc trầm trầm. Có lần tôi ghé vào nhà Long, mẹ Long cho tôi ăn Thạch với nước hoa lài nấu bằng đường phèn. Khi tôi đang ăn, Mẹ Long phát hiện tôi có nút áo sắp đứt nên đi lấy kim chỉ khâu lại cho tôi. Mẹ của Long thường ân cần khuyên nhủ: “hai anh em nhớ nhắc nhở nhau mà học hành nhé.”

Bố mẹ nào mà chẳng lo cho việc học của con cái. Hay tin Ba tôi mất, Long gọi điện thọai nhắc lại với tôi chuyện hồi chúng tôi học thi Tú Tài trên gác gỗ mang tên “Lầu Học Trò” (do Long đặt tên). Thỉnh thỏang đêm khuya, Ba tôi đi nhè nhẹ lên xem chúng tôi học hay ngủ, người rất hài lòng vì hầu như chưa bao giờ thấy chúng tôi xao lãng trong việc đèn sách.

Được tin Mẹ của Thu Hà và Thu Liên mất, tôi chẳng quên được giọng nói từ tốn, rõ ràng của Me Thu Hà Thu Liên đã cắt nghĩa bịnh trạng “máu khó đông” khi tôi và các bạn gặp Bác trong bệnh viện.

Hay tin Papa của Vân mất, tôi nhớ hồi còn làm việc ở văn phòng bên Gia Định, hai bác cháu ngồi duyệt lại cái Văn Tự Sang Nhượng Bất Động Sản do tôi sọan giúp. Bác nói tiếng Pháp rất lịch sự. Thấy tôi không hút thuốc lá, Bác khen tôi. Bác rất sùng đạo và khoe có cô con gái đang ở giòng tu Thiên Chúa Giáo.

Nhận được lời chia buồn của Thầy Trần Đại Tăng và bạn Quí Phẩm, người bạn hiền lành, xinh đẹp, ít nói trong lớp năm xưa…tôi không ngăn được xúc cảm.

Tôi nhớ, trong giờ giải toán hình học không gian hồi đó, khi thầy đi xuống cuối lớp, chỗ tôi ngồi, tôi có thưa với thầy, tôi có một cách khác giải bài toán. Thầy trả lời, “ta” biết “mi” muốn nói cái chi rồi. Chỉ còn vài phút nữa là hết giờ nên tôi không có dịp lên bảng trình bày cách giải của tôi. Tiếng “ta” và tiếng “mi” nói rất nhẹ nhàng đã khiến cho tôi không bao giờ ngại ngùng hỏi thầy những khúc mắc của tóan học. Sau bữa đó, mấy người bạn ngồi gần tôi, nhìn tôi với cặp mắt là lạ như thể muốn gán cho tôi là một học trò “có thớ” về hình học không gian.

Thật cảm động khi biết rằng sau cuộc đổi đời 1975, người bạn Qúi Phẩm bao giờ cũng là niềm an ủi trước những “nỗi lòng biết tỏ cùng ai” của ông thầy Toán kiêm Thi sĩ :

Ta kể em bao chuyện đổi dời
Những đảo điên dối trá cuộc đời
Em nghe lẳng lặng hang mi động
Không nói nhưng như có vạn lời (Trần Đại Tăng)

(Thấy Tăng và Quý Phẩm)

Chuyện tình dễ thương qúa! dễ thương quá!

Tôi còn nhớ, một hôm Đỗ Ngọc Lệ, nhà cùng xóm ở Thanh Khê với Đ., báo tin cụ Thân Sinh của Đ. vừa mất. Đ. vắng mặt hơn cả mười ngày. Thứ bảy tuần ấy, chúng tôi được thầy Hướng, giáo sư Công Dân, hướng dẫn đi chia buồn với tang quyến. Đặc biệt, phía bạn gái, có mặt Lưu Thị Lựu. Xúc động quá, Đ. òa lên khóc như một đứa trẻ khiến bọn chúng tôi không cầm đựơc nước mắt.

Hồi đó, Đ. có làm thơ và thỉnh thoảng hứng chí đọc thơ cho bạn bè nghe. Đ. làm thơ nói thật nỗi lòng mình. Bạn Trần Đình Sao Huyền, tên thật là Trần Đình Sào, dân Quốc Học tị nạn tại Phan Châu Trinh một thời gian ngắn, trong phóng sự “Đường Vào Tình Sử” có ghi chú:

“Bên đường bóng Lựu nhìn xa tắp
Bỗng thấy hoàng hôn xuống lạnh lùng”

Tôi không nhớ chắc tác giả hai câu thơ trên, của Đ. hay do bạn bè chọc ghẹo Đ., nhưng nó không phải chỉ đơn thuần vẽ nên hình ảnh cô nữ sinh khuất bóng trên đường về…mà ngờ đâu còn ẩn dụ cuộc ra đi quá sớm của người bạn dịu hiền vì bịnh tim khắc nghiệt .

Nghe nói, theo bản tin trên Diễn Đàn Sinh Hoạt Phan Châu Trinh, có lần Đ. trong chuyến về Việt Nam thăm gia đình đã tìm đến ngôi mộ của người bạn cùng lớp năm xưa tên là Lưu Thị Lựu để trùng tu lại. Người bạn Phan Châu Trinh của lớp tôi ơi, bạn thật chân tình và dễ mến quá!

Từ Đà Nẵng lên Thanh Khê, chúng tôi đạp xe đạp và thời đó đúng là thời “gạo trắng trăng thanh”. Đi đi về về dễ dàng, ngày cũng như đêm, chẳng bao giờ sợ Cảnh Sát hỏi giấy tờ hay sợ Việt Cọng ra chận đường. Đã có lần, bạn Đỗ Ngọc Lệ, luộc khoai và sắn thết đãi chúng tôi sau khi chúng tôi tắm biển Thanh Khê. Thật tuyệt vời và khó quên.

(Highlight: Đỗ Ngọc Lệ)

Nghe tin một số Thầy Cô mất, một số bạn bè mất, Hùynh Ngọc Tài mất, Lê Thị Vân mất, Đỗ Ngọc Lệ mất, Lưu Thị Lựu mất, Nguyễn Văn Thám mất, Trần Nhật Ngân mất…mới thấy thấm thía lời chia buồn của người bạn Quý Phẩm: “Người quen, người này người nọ lần lượt ra đi cả. Buồn ghê. “

Có ai sống mãi ở trần gian này đâu nhỉ? Ai lại chẵng biết vậy, nhưng người ở lại vẫn buồn vẫn đưa tay chặm nước mắt tiễn người đi:

Sinh ly tử biệt là như thế
Biết thế mà sao lệ cứ trào! (thơ Hải Đà)

Đã hơn mười mấy năm rồi kể từ ngày nhuốm bệnh, tôi rất ít vào Internet đọc bài đọc báo. Email thì năm khi mười họa mới mở, đến khi “sign in” lại quên cả ID lẫn password, thật sửng sờ, huống chi là viết với lách. Bạn bè, người không biết có khi trách cứ “cái thèn…”. Có bạn còn đùa dai, nhại tên tôi để Email họa thơ cho vui vì thấy tôi vắng bóng trên sân trường Phan Châu Trinh quá lâu.

Tôi đã vịn vào tay của vợ tôi mà đứng dậy. Đôi bàn tay của người vợ hiền yêu quí, tuy bé nhỏ nhưng đã truyền sức sống mãnh liệt cho tôi trong những ngày tôi nằm quỵ, tưởng chừng sắp ra đi. Cũng chính đôi bàn tay thương yêu này đã dìu tôi sang phòng làm việc của tôi, căn phòng vì những tháng ngày dài vắng bóng tôi nên những chậu hoa lan khô heo đi nhiều. Qua khung cửa sổ, tôi thấy nắng vàng ngòai kia đang nhảy múa, trên trời xanh những đám mây trắng mây hồng bồng bềnh trôi thật dễ thương, nhìn xuống phía rừng nghe tiếng chim họa mi hót vang, nghe tiếng suối róc rách reo lên:

Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn
Tào Khê nước chảy, hãy còn trơ trơ.

"Con chuột " trên bàn giấy của tôi vẫn khỏe mạnh như ngày nào, đã nhanh nhẹn đưa tôi đến Sân trường của ngôi trường ảo "Một Thời Phan Châu Trinh" với Trưởng Ban Biên Tập là bạn Trần Đình Thắng và Webmaster là anh Bảo Sơn, vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt mặc cho sóng gió phá họai...

Bài viết “Từ một tấm hình xưa” của Thùy An Nguyễn Thị Ái, “Dư âm ngày Đại Hội” của Thi Vân đã làm tôi nhớ đến các bạn bè quen biết với nhiều xúc động và đã gây nhiều cảm hứng khiến tôi cố gắng hết sức, dầu không khỏe, kể lại những kỷ niệm năm xưa khi tôi học Phan Châu Trinh.

Cám ơn Thùy An và cám ơn Thi Vân nhé!

Các bạn tôi ơi, xin hãy xem những kỷ niệm tôi vừa nhắc lại chỉ là nối tiếp của biết bao câu chuyện “Một Thời Phan Châu Trinh Đà Nẵng” mà các bạn kể chưa hết.

Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý !

Người bạn PCT năm xưa.

Hà N. Vương

Florida tháng 9/2012

Email :

  

 


 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 09 Tháng 4 2013 19:48

Trang 1 trong tổng số 31

Những dòng giao cảm
Trung Học Phan Châu Trinh
Ngày Thành Lập (có cập nhật)

Bác Sĩ tại Đà Nẵng trước 30 tháng 4

Thi Tập Trần Hoan Trinh

Giáo Sư PCT Đà Nẵng ( random image)

ThayTrandinhHoan.jpg
Đại Hội PCT Thế Giới kỳ II
HÌNH ẢNH*TIN TỨC*PHÓNG SỰ
Dư Âm Đại Hội PCT Thế Giới kỳ II
THI VÂN
Đại Hội PCT Thế Giới kỳ I
TOÀN TẬP VIDEOS BAOSON
BẠN BÈ MỘT THỜI PCT
bài viết của PHAN THU HÀ

Một thời PCT Đà Nẵng ( random image)

PhamNgocChan.jpg
bài viết của Thi Vân
Tập Ảnh "Trung Học PCT"
NGUYỄN DIỆU LIÊN HƯƠNG
Tiếng Hát PHAN CHÂU TRINH
PHƯỚC KHÁNH

Kinh Nghiệm về Cọng Sản

President Ronald Reagan: How do you tell a communist? Well, it's someone who reads Marx and Lenin. And how do you tell an anti-Communist? It's someone who understands Marx and Lenin. Làm sao biết ai là CS? Đó là người đọc về Marx và Lenin. Làm sao biết ai chống cộng? Đó là người hiểu về Marx và Lenin.

PHAN CHÂU TRINH ĐÀNẴNG

Số lần xem bài viết : 1459258
You are here: KỶ NIỆM TRƯỜNG XƯA