Phan Châu Trinh Đà-Nẵng

  • Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

QUỐC HẬN 30/4

Lịch sử Việt Nam có quá nhiều ông Hồ Chí Minh giả

Email In PDF.
Những người mang tên Hồ Chí Minh

 

Hình Hồ Chí Minh (trái) được vẽ lại từ một người Mẫu người Trung Quốc (phải

SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH Nguyễn Ái Quấc - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, những cái tên của những con người bí ẩn trong lịch sử. Viết về những người này, có quá nhiều dữ liệu cần phân tích, cần rất nhiều trang lý luận với nhiều chủ đề khác nhau, việc này cần nhiều thời gian xin dành cho các sử gia chuyên nghiệp. Còn tôi, trong khi chờ đợi các sử gia lên tiếng, tôi xin viết một số ý nhỏ, một cách thật đơn giản sao cho mọi người đều có thể hiểu được. Trong bài viết hạn hẹp này, tôi chỉ đề cập tới Hồ Chí Minh.

NHÃ THANH SỬ 
NHỮNG NGƯỜI MANG TÊN HỒ CHÍ MINH "Hồ Chí Minh", theo như công bố của đảng Cộng sản, là " một người" đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 và mất ngày 02/09/1969. Sự thật, "Hồ Chí Minh" không phải là một người, mà tất cả là " 5 người gồm 1 Thật và 4 Giả". NHỮNG NGƯỜI MANG TÊN HỒ CHÍ MINH: 1 THẬT - 4 GIẢ
HCM thật bị CS xóa hình Hồ giả 1Hồ giả 1 Hồ giả 2 Hồ giả 3 bị CS xóa hình Hồ giả 4
HỒ CHÍ MINH Thật 02/09/1945 - 02/1946 .Là người Việt. .Đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 với tên là Hồ Chí Minh. .Giải tán đảng Cộng sản. .Thành lập Chính phủ Liên hiệp, đa đảng. .Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước. .Thiên về Mỹ, dân chủ dân quyền. .Bị Cộng sản xóa tất cả hình ảnh. HỒ giả 1 03/1946 - 1953 .Là người Việt. .Ký Hiệp định sơ bộ mời Pháp trở lại Việt Nam. .Tiêu diệt các đảng phái không Cộng sản. Vụ án Ôn Như Hầu. .Thiên về Liên sô, độc tài đảng trị. .Vợ là Tăng Tuyết Minh. .Nghiện thuốc lá nặng. HỒ giả 2 1953 - 1965 .Là người Tàu. .Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam. .Cải cách ruộng đất giết dân Việt. .1958 gài bẫy Phạm Văn Đồng ký công nhận lãnh hải của Trung Quốc. .Dâm và ác. Giết nhân tình Nông Thị Xuân. .CÂM (nghĩa bóng): Nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh. HỒ giả 3 1965 - 02/09/1969 .Là người Tàu. .Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam. .Công khai cho mọi người thấy mình là người Tàu, do đó bị Cộng sản xóa tất cả hình ảnh.
Hồ giả 3 bị CS xóa hình
CÂM (nghĩa bóng): Nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh. HỒ giả 4 1969 Là người Tàu. Làm người mẫu vẽ Hình chân dung giả mạo Hồ Chí Minh. HỒ CHÍ MINH Thậ t - Người đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, được gọi là "Hồ Chí Minh thật".
- Ngày 06/01/1946 người dân bầu cử Quốc hội đầu tiên. Sau đó Quốc hội bầu "Hồ Chí Minh thật" làm Chủ tịch nước. Với một người nổi tiếng như thế, chúng ta rất mong muốn được biết mặt mũi ra sao, nhưng tìm mãi trong tất cả tài liệu mà Cộng sản công bố đều không nhìn ra được chân dung của "Hồ Chí Minh thật". Xem những phim tài liệu có nhắc đến ngày đọc Tuyên ngôn độc lập 02/09/1945 chúng ta chỉ có thể nhìn thấy cảnh "Hồ thật" và những người cùng đứng trên lễ đài ở xa xa, không rõ mặt (hình a và b). Trong khi những người dân thì được ưu tiên quay cận cảnh rõ ràng (hình c và d).
(a(b)(c)(d)
Tương tự với những đoạn phim tài liệu về ngày Quốc hội bầu Chủ tịch nước, hình ảnh "Chủ tịch nước" và các thành viên Chính phủ cũng xa xa, không rõ mặt mũi.

Chắc chắn trong ngày đọc Tuyên ngôn độc lập quan trọng ấy, những người quay phim phải trân trọng ưu tiên quay cận cảnh chân dung của Hồ Chí Minh và những người tham gia.Đồng thời họ phải cẩn thận quay rõ khuôn mặt của Chủ tịch nước và các thành viên trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng tại sao chúng ta không nhìn thấy những cảnh quay này, chính vì Cộng sản đã che dấu tất cả. Lẽ ra Cộng sản phải vui mừng phổ biến chân dung của "Hồ Chí Minh thật" nhưng tại sao lại che dấu ? Hãy xét lại những gì "Hồ Chí Minh thật" đã làm:
- "Hồ thật" đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 với nội dung bình đẳng dân chủ dân quyền và 5 lời thề chống Pháp. - 11/09/1945 quân của Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc Việt Nam. 23/09/1945 quân Anh Pháp vào miền Nam Việt Nam. - Tháng 10/1945 "Hồ thật" viết thư gửi lãnh đạo Uỷ ban Nhân dân các Bộ, Tỉnh, Huyện vàLàng "... rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các Làng đều là đầy tớcủa dân, nghĩa là để gánh vác việc dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳdưới sự thống trị của Pháp, Nhật". - 11/11/1945 "Hồ thật" tuyên bố giải tán đảng Cộng sản Đông Dương. - 01/01/1946 thành lập Chính phủ Liên hiệp gồm 3 thành phần,
đa đảng. - 06/01/1946 tổ chức cho người dân bầu cử Quốc hội đầu tiên. Sau đó Quốc hội bầu "HồChí Minh thật" làm Chủ tịch nước.
- 28/02/1946 Chủ tịch nước "Hồ Chí Minh thật" gửi thư có chữ ký cho Tổng thống Mỹ, yêu cầu hỗ trợ. Nếu "Hồ thật" là đảng viên Cộng sản từng ở Liên sô và Trung Quốc, đã yêu chủ nghĩa Mác - Lê nin, thì tại sao trong Tuyên ngôn độc lập lại chỉ nhắc đến Hiến pháp của Mỹ ? Tại sao nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam viết thư yêu cầu Tổng thống Mỹ giúp đỡ ? Vậy còn Hiến pháp của Liên sô đâu, Chính phủ Liên sô đâu, mà một đảng viên Cộng sản như "Hồthật" lại quên ? Những việc làm của "Hồ thật" có vẻ thiên về nước Mỹ, thiên về một Chính phủ Cộng hòa Dân chủ và Dân quyền, không thấy quan tâm gì đến Liên sô, một Chính phủ độc tài đảng trị. Có thể vì thế "Hồ Chí Minh thật" mới bị Cộng sản âm thầm loại trừ và thay thế bằng một "Hồ giả" đi đúng đường lối của Cộng sản. Thời gian tồn tại của "Hồ Chí Minh thật" quá ngắn ngủi, chỉ trong vòng vài tháng. * Làm gi ả PHIM c ả nh "H Ồ đọ c Tuy ê n ng ô n độ c l ậ p": Nếu làm phim tài liệu mà không cho người dân thấy chân dung của người đọc Tuyên ngôn độc lập thì cũng kỳ quá, cho nên Cộng sản đành phải làm giả. Trong phim tài liệu "Hình ảnh về đời hoạt động của Hồ chủ tịch" sản xuất năm 1960, cóđoạn phim Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khoảng 7 giây.
Hãy so sánh các hình liên tiếp 25:11 - 25:18. Chú ý có 3 phần: cái bàn, mây và cây, Hồvà micro. (a) 25:11 - 25:12: cái bàn đứng yên, mây và cây di chuyển nhanh hướng xuống và qua trái, micro cũng đi xuống và qua trái. (Hay nhỉ, trong 1 giây mà mây bay rất nhanh, cái cây cũng biết đi, micro cũng chạy luôn) (b) 25:14 - 25:15: cái bàn đứng yên, mây và cây đi qua phải, micro cũng qua phải. (Lạquá, trước đó mây bay qua trái, bây giờ bay qua phải kéo theo cái cây cũng bay qua phải, micro cũng qua phải) (c) 25:15 - 25:16: cái bàn đứng yên, mây và cây đi lên, micro cũng đi lên. (Ủa, mây bay lên trời, cây và micro cũng lên trời) (d) 25:16 - 25:17: cái bàn đứng yên, mây và cây đi xuống, micro cũng đi xuống. (Ôi, mây rơi xuống đất, cây và micro cũng chui xuống đất)
(a) (b) (c)

(d) Như vậy đây chính là cảnh cắt ghép các hình, gồm hình phông nền mây và cây, hình cái bàn, hình micro, và các hình Hồ với tư thế khác nhau, sau đó di chuyển vị trí các hình rồi dựng lại thành đoạn phim. Vì đây là cảnh giả nên chắc chắn Hồ này cũng giả nốt. Tuy nhiên, Cộng sản đàn em thấy Cộng sản đàn anh bị sai lộ liễu quá, nên trong các phim tài liệu làm sau này, đã cắt bớt các cảnh chung quanh, chỉ phóng lớn hình Hồ, vàchỉ lấy 1 giây phim để cho người xem khó nhận ra sự giả tạo. Trong phim tài liệu "Hồ Chí Minh chân dung một con người" sản xuất năm 1990, đoạn phim Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập chỉ khoảng 1 giây, bị cắt không còn cái bàn với mây và cây nữa. 1 giây thì người xem chẳng còn nhận ra được cái gì nữa !

* Làm giả HÌNH c ả nh "HỒ đọc Tuyê n ngô n độc lậ p": Sau này, Cộng sản còn vẽ tranh làm giả Hình chụp cảnh Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập. Hình giả có nhiều điểm sai như sau:
- Microphone trong hình có dạng tròn và dẹp, có lưới chụp ở mặt sau. Thực tế, Microphone chỉ có lưới chụp ở mặt trước, còn mặt sau không có lưới chụp. Nhìn tấm hình, dễ dàng nhận ra tác giả đã nhầm lẫn vẽ Hồ phát biểu đối diện với mặt sau của Microphone, còn mặt trước có lưới chụp thì hướng ra ngoài. Sự dốt nát của tác giả đãtạo nên một tấm hình mà ai xem cũng nhận ra là giả, khiến Cộng sản mãi mãi mang tiếng lừa đảo trong lịch sử. - Lá cờ đỏ sao vàng ngay trước mặt Hồ. Trong phim tài liệu chúng ta thấy chỉ có cờ đỏsao vàng nằm ở tầng bên dưới, còn trước mặt Hồ không có cờ đỏ sao vàng (hình a). Hơn nữa, không ai treo cờ bằng cách bẻ gập xuống phần nền đỏ phía trên của ngôi sao. Đỉnh của ngôi sao còn nhô lên khỏi mặt vải, thật vô lý. Chính vì tác giả bức tranh muốn cho người xem thấy cờ đỏ sao vàng nên mới vẽ gán ghép như vậy. - Cảnh nền phía sau lưng Hồ không có một người nào, lại có bóng đổ từ sáng trắng đến tối mờ giống như bức tường đứng sát lưng Hồ. Trong phim tài liệu thì sau lưng Hồ córất nhiều người và không có bức tường nào. - Bóng trên mặt Hồ và trên thân bên phải, bóng đường biên áo giữa ngực là sai. Hồ đangđứng ngoài trời nắng, nên khi chụp hình không có bóng quá đen và rộng như vậy. Nhất làkhông thể có bóng đường biên áo giữa ngực như vậy được. - Túi áo và khuy áo quá to không đúng thực tế. 3 đường rãnh để cài khuy áo quá rộng vàquá dài thì thật vô lý. Nút áo giữa lại nằm lệch khỏi đường rãnh cài. Túi áo phải lại bị xéo quá nhiều. - Thân hình ngực Hồ bị méo và bị dẹp. Chân dung Hồ này chẳng giống bất kỳ chân dung nào của Hồ. - Tranh vẽ Hồ mặc 1 áo kaki trắng. Trong hình trích từ phim tài liệu thì "Hồ thật" mặc 2 áo, một áo trắng bên trong và một áo ngoài sẫm màu (hình b và c). - Ngoài ra, hình giả và đoạn phim giả có microphone không giống nhau, trong phim giảlà khối trụ dài còn trong hình giả thì tròn dẹp. Chứng tỏ là do các tác giả khác nhau dàn dựng ra, đúng là Tổ trác ! - Thực tế đây là một tranh vẽ quá dở, mà dám dối gạt là Hình chụp Hồ đọc Tuyên ngônđộc lập, rồi đem treo ở bảo tàng và phổ biến khắp nơi.

(a)(b)

(c) HỒ giả 1 - Xuất hiện khoảng đầu tháng 03/1946. - 06/03/1946 "Hồ giả 1" ký "Hiệp định sơ bộ" với Pháp, mời Pháp trở lại Việt Nam. "Hồgiả 1" không cho các lực lượng quốc gia chống lại Pháp, còn hợp tác với Pháp để tiêu diệt các lực lượng quốc gia. - 15/05/1946 quân của Tưởng Giới Thạch rời Việt Nam. - 27/05/1946 "Hồ giả 1", Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng đi Pháp dự hội nghị La Fontainbleau, cử cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Việt Nam thay quyền Chủ tịch nước. - 12/07/1946 vụ án phố Ôn Như Hầu. Phe Cộng sản đồng loạt tấn công các trụ sở của cácđảng Đại Việt Quốc dân Đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng với lý do là để đập tan âm mưuđảo chính của họ cấu kết với thực dân Pháp. - 14/09/1946 "Hồ giả 1" ký "Tạm ước" với Pháp. - 31/10/1946 "Hồ giả 1" lập chính phủ mới, các thành phần Quốc gia bị loại trừ khỏi chính phủ Việt Minh. Cụ Huỳnh Thúc Kháng chết. - 19/12/1946 "Hồ giả 1" tuyên bố hiệu triệu toàn quốc kháng chiến chống Pháp. - 10/03/1952 "Hồ giả 1" cử Nguyễn Lương Bằng sang Liên sô làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. "Hồ giả 1" là tên cuồng tín Cộng sản, ngu trung với Quốc tế Cộng sản, và nhất mực trung thành với Liên sô cái nôi của Cộng sản. Sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa "Hồgiả 1" với đàn anh Liên sô làm đàn em Trung Quốc khó chịu, đây có thể là nguyên nhân làm "Hồ giả 1" biến mất. S ự bi ế n m ấ t b í ẩ n c ủ a "H ồ gi ả 1" đ á nh d ấ u b ướ c m ở đầ u cho qu á tr ì nh "C ộ ng s ả n gi ế t C ộ ng s ả n" một cách công khai với truyền thông bị bịt miệng, kếtiếp là "Cải cách ruộng đất" tàn khốc, và sau này tiếp diễn cho đến tận ngày nay. "Hồ giả 1" có khuôn mặt rất xấu xí, cặp mắt gian tà. Ban đầu khi mới xuất hiện thì tỏvẻ e dè, khi đã quen với quyền lực thì gian ác. Trong phim tài liệu ngồi cùng bàn ăn với Phạm Văn Đồng, cảnh "Hồ giả 1" ngồi co ro khúm núm, cái đầu gật gù, che dấu hai bàn tay, ánh mắt sợ sệt, lo lắng bị phát hiện làđồ giả mạo. Xem 2 đoạn phim ( H ồ & Ph ạ m V ă n Đồ ng - H ồ đầ u g ậ t g ù m ắ t l ấ m l é t) (chú ý phim và hình có bản quyền Getty Images).

Khuôn mặt "Hồ giả 1" hớn hở khi ký Hiệp định sơ bộ với Pháp.

"Hồ giả 1" sang Pháp ký Hiệp ước. Hình chụp ngày 14/07/1946 tại Paris, Pháp.

(chú ý hình có bản quyền Getty Images) "Hồ giả 1" có vẻ không khôn ngoan, thích thể hiện những việc làm ngu ngốc. Hồ bảo nên tiết kiệm từng nắm gạo, đôi dép nhưng lại xài phung phí những thước phim tài liệu đắt tiền vào những cảnh quay không đáng như: Hồ đan giỏ, Hồ câu cá, Hồ chia thức ăn, Hồ chơi bóng chuyền, Hồ dùng khăn lau mình, Hồ trần trụi đi lông nhông v.v... Hãy xem Hồ đan giỏ, Hồ câu cá.

Hồ chia thức ăn.

Hồ chơi bóng chuyền.

Hồ đi cầu khỉ, Hồ chẻ củi.

Hồ mắc mưa cởi quần áo.

Hồ dùng khăn lau mình.

Hồ trần trụi đi lông nhông, mắt còn nhìn lén máy quay phim nữa chứ !

Trong những năm ban đầu, "Hồ giả 1" mặt rất xấu xí rất gian tà, nên trong phim tài liệu Cộng sản thường xóa hết những cảnh quay chính diện chân dung. Thật tức cười khi thấy rõ khuôn mặt của những người dân, còn khuôn mặt của "Hồ giả 1" thì không rõ. Một ví dụ như "Hồ giả 1" gặp Việt kiều ở Pháp:

Tại sao không quay phim tài liệu cảnh Hồ lãnh đạo Chính phủ, cảnh Hồ họp bàn kế hoạch kháng chiến với các tướng lãnh ? Thực chất Hồ này ngu như bò, không biết suy nghĩ gì, chỉ là con rối bù nhìn, mọi việc đều do kẻ khác giật dây quyết định. Hồ này không nghĩ ra được những tư tưởng cao cấp, mà chỉ nghĩ ra được những ý tưởng nhỏ hẹp, cởi áo cởi quần, tầm nhìn thấp kém, làm những việc tầm xàm và sai lầm đủ thứ. Những cảnh đóng kịch trước máy quay phim làm tôi ghê tởm Hồ này, vì sự giả dối một cách trơ trẽn không một chút xấu hổ của hắn. Vợ là Tăng Tuyết Minh, hình thời trẻ và hình lúc tuổi già mòn mỏi đợi chờ với ảnh Hồtrên tường. Tháng 05/1950, nhìn thấy hình Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung Quốc), bà Tăng Tuyết Minh (1905-1991) nhận ra đây là người chồng tên Lý Thụy đã kết hôn với bà ngày 18/10/1926 tại thành phố Quảng Châu, hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ ngày 12/04/1927.
Sau đó bà đã báo cáo với tổ chức và gởi mấy lá thư cho ông Hồ, thông qua đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lời.
Một cán bộ lãnh đạo Quảng Châu đã tới gặp bà, trao cho lá thư của bà Thái Sướng (một trong những người đã tới dự tiệc cưới năm 1926 cùng với bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ của ChuÂn Lai) chứng thực Hồ Chí Minh chính là Lý Thụy cũng tức là chồng Tăng Tuyết Minh. Cán bộ này cũng giải thích lí do tại sao không tiện liên lạc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hy vọng Tăng Tuyết Minh hiểu và lượng thứ việc này, yên tâm công tác. Sau năm 1954, bàTăng Tuyết Minh xin qua Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, cũng bị từ chối.
Bà Tăng Tuyết Minh về hưu năm 1977, rồi mất ngày 14/11/1991 tại Quảng Châu.
H Ồ gi ả 2 - Xuất hiện khoảng cuối 1953, chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ. - Là người Tàu. Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam. - 19/12/1953 "Luật cải cách ruộng đất" được "Hồ giả 2" phê chuẩn và chính thức ban hành. Thực chất đây là quá trình giết hết những thành phần yêu nước Việt Nam kể cảCộng sản, để xây dựng lực lượng lệ thuộc Trung Quốc. - "Hồ giả 2" còn trẻ, sung sức nên có ham muốn tình dục, không được thỏa mãn công khai, nên Dâm đãng. Có nhân tình trẻ Nông Thị Xuân từ năm 1955, sanh một đứa con 1956, rồi bị giết 1957. - 1958 gài bẫy Phạm Văn Đồng ký công nhận lãnh hải của Trung Quốc. - 1959 tỏ ý muốn cưới vợ Tàu người Quảng Đông, nhưng không thành công. - "Hồ giả 2" có gương mặt khá đẹp nên được Cộng sản quay nhiều phim tài liệu. - Đặc điểm của "Hồ giả 2" là bị CÂM. Nói "Hồ giả 2" CÂM là nói theo nghĩa bóng, vì chúng ta không bao giờ thấy phim ảnh có tiếng nói của "Hồ giả 2", mà chỉ toàn nghe người khác nói dùm những lời phát biểu của hắn. Nguyên nhân là vì "Hồ giả 2" nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh. - Giữa năm 1965 "Hồ giả 2" tìm cách quay về Trung Quốc, rồi lấy cớ sức khỏe yếu kém không chịu quay sang Việt Nam nữa. "Hồ giả 2" chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ.

Vui mừng rơi lệ khi ôm được lãnh tụ Tàu.


"Hồ giả 2" lấy khăn lau mắt tự phê bình Cải cách ruộng đất, lòng tiếc nuối "Phải chi dân Quỳnh Lưu đừng nổi dậy chống lại, thì Hồ ta còn tiếp tục giết thêm nữa". Những người miền Bắc hôm nay phải biết ơn người dân Quỳnh Lưu hy sinh tính mạng để chặn bước chém giết của Cải cách ruộng đất.

Các cảnh đóng kịch khóc khác. Khóc trong nước.


Vì còn trẻ, sung sức nên có ham muốn tình dục, không được thỏa mãn công khai, nên Dâm đãng. Hồ giơ ngón tay giữa biểu thị cái tục trước mặt cô gái.

Hồ gặp gái, thấy có cơ hội là ôm hôn liền.

Hồ Ôm Hôn Người Đẹp Trà Giang
Nông Thị Xuân, người tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng, được đưa về Hà Nội sống lén lút với Hồ năm 1955, lúc đó cô Xuân 22 tuổi. Xuân có với Hồ một người con trai năm 1956, đặt tên Nguyễn Tất Trung. Bà Xuân muốn công khai hóa mối liên hệ, và đòi chính thức nhìn nhận đứa con nhưng Hồ vẫn không cho bà vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cưới. Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công an chính phủ Hà Nội, đã giết bà Xuân ngày 11/02/1957, bằng cách cho người đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư, ngụy tạo tai nạn xe ô tô. Xem hình ngôi nhà bà Xuânđã ở số 66 phố Hàng Bông - Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nội.
Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi Trung bịbắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng nuôi. Năm Trung 5 tuổi (1961) được chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôi. Khi Hồ qua đời ngày 02/09/1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồlà Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung. 1959 "Hồ giả 2" muốn cưới vợ người Quảng Đông, được sử gia William J. Duiker nhắc tới, và cũng được công bố bởi một tờ báo Trung Quốc.
2 lần về thăm quê nhà Kim Liên 1957 và 1961, nhưng không lần nào vào thăm mái nhà xưa hay viếng mộ mẹ, mộ anh, mộ chị. Nhà đây, mộ mẹ, mộ anh, mộ chị ở đây, tại sao không bao giờ Hồ đến thăm viếng và thắp một nén nhang ? Tại sao bất hiếu vô tình bạc nghĩa vậy ? Tại vì nó là Tàu nên không chịu bái lạy tổ tiên người Việt, sau này về Tàu làm sao ăn nói với tổ tiên thiệt của mình. Đơn giản vậy mà còn hỏi !

Tại Hà Nội, trong nhà sàn của Hồ, không hề có bàn thờ cha mẹ anh chị, thậm chí một tấm hình của một người thân cũng không có ? Tại sao bất hiếu vô tình bạc nghĩa vậy ? Tại vì nó là Tàu nên không chịu treo hình tổ tiên người Việt, sau này về Tàu làm sao ăn nói với tổ tiên thiệt của mình. Đơn giản vậy mà còn hỏi ! Mời các bạn xem hình, cha Nguyễn Sinh Sắc, anh Nguyễn Sinh Khiêm, chị Nguyễn ThịThanh. Chắc bây giờ họ đã biết đó là Hồ giả rồi.

Trung Quốc, đây mới chính là quê hương của "Hồ giả 2". Trở về quê nhà ở Trung Quốc, gặp lại người thân (a) (b). Lưu lại chứng tích làm Hồ ChíMinh, cha già dân tộc Việt Nam (c). Ngôi nhà yêu dấu (d).
(a)(b) (c)(d)
H Ồ gi ả 3 - Xuất hiện khoảng giữa năm 1965. - Là người Tàu. Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam. - Khi "Hồ giả 2" không chịu quay trở lại Việt Nam, sự việc quá bất ngờ khiến Trung Quốc không kịp chuẩn bị trước tìm người thay thế. Đành phải lựa chọn tương đối một người còn trẻ nhưng không giống "Hồ giả 2". Vì không giống "Hồ giả 2", nên "Hồ giả 3" phải đeo kính to và đội nón để che dấu sự khác biệt. - Từ 1965 đến 1969 luôn trốn khỏi Hà Nội, lẩn tránh mọi người. Nhiều lần về Trung Quốcđể giải phẫu sửa đổi khuôn mặt cho già. - Tuy nhiên "Hồ giả 3" này còn trẻ nên kiêu hãnh dám công khai cho mọi người thấy mình là người Tàu. Đội mũ Tàu, mặc áo quần Tàu. Do đó bị Cộng sản xóa tất cả hình ảnh. - Thăm Vạn Lý Trường Thành, thăm quê nhà Khổng Tử. - Đặc điểm của "Hồ giả 3" là bị CÂM. Nói "Hồ giả 3" CÂM là nói theo nghĩa bóng, vìchúng ta không bao giờ thấy phim ảnh có tiếng nói của "Hồ giả 3", mà chỉ toàn nghe người khác nói dùm những lời phát biểu của hắn. Nguyên nhân là vì "Hồ giả 3" nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh. - 02/09/1969 bị Cộng sản giết chết làm xác ướp. Các hình trích từ phim tài liệu "Hồ giả 3" công khai là người Tàu trong buổi lễ ra mắt "Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam". Hai bên "Hồ giả 3" là Phạm Văn Đồng và Tôn Đức Thắng. "Hồ giả 3" nghe em thiếu nhi nói tiếng Việt không hiểu mặc dù cố gắng kề tai sát gần miệng em. Xem 01:30 phút đầu (00:30 - 00:40 Hồ giả 3, 00:51 - 00:58 Hồ giả 2, 01:13 - 01:19 Hồ giả 3) sau đó là linh tinh khác http://v.ifeng.com/his/200905/76de3ecb-897a-4722-9e5e-5af70e25680c.shtml (chú ý phim và hình có bản quyền ifeng.com)

.
Nhìn "Hồ giả 3" biết ngay là Tàu chính gốc !

Nhìn kỹ "Hồ giả 3" không đeo kính nhé ! Thật ra hắn có bị cận thị gì đâu, chẳng qua ngụy trang trước chỗ đông người mà thôi.

Đi thăm Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, "Hồ giả 3" không cần đeo kính mà đi nhanh hơn mọi người.

Không cần đeo kính ngụy trang làm gì !

Từ 1965 đến 1969 "Hồ giả 3" luôn trốn khỏi Hà Nội, lẩn tránh mọi người. Nhiều lần vềTrung Quốc để giải phẫu sửa đổi khuôn mặt cho già.
Ngày nào khuôn mặt giống với một ông già, thì ngày chết sẽ đến, "Hồ giả 3" không biết những ngày Vinh quang chỉ là ảo ảnh.

"Hồ giả 3" đang nằm oằn oại trước cái chết từ từ thê thảm và những màn kịch chung quanh. Sao không mời bác sĩ Liên sô qua cứu chữa, đúng là giả dối !

Để trở thành xác ướp, "Hồ giả 3" bị mổ bụng, moi hết lục phủ ngũ tạng (tim, gan, thận, ruột, dạ dày, thực quản, khí quản, phổi, tụy tạng, lá lách, bàng quang...) và não, hành tủy, và tủy sống. Máu cũng được hút sạch. Khắp cơ thể được chích hóa chất dưới da, mặt, tay, chân, ngón tay, ngón chân, tai, mũi, môi, ngực, bụng, mông, hông, lưng, bắp tay, bắp chân, đùi... Hai quả cầu thuỷ tinh được đặt vào hốc mắt. Môi cũng được khâu lại. Nguồn ánh sáng đỏ chiếu vào khuôn mặt và hai bàn tay để che dấu vẻ nhợt nhạt của thi hài, làm cho khuôn mặt của "Hồ giả 3" ánh lên màu hồng và tạo được ấn tượngđang ngủ. Hàng năm xác Hồ được chở qua Nga để tu bổ, ngâm chìm trong dung dịch hóa chất 30 ngày, và tẩy rửa, khâu, dán, thay thế những chỗ bị nấm mốc hủy hoại bằng những vật liệu nhân tạo như sáp, nhựa dẻo. Năm 1976 các chuyên viên Trung Quốc qua Việt Nam quan sát học hỏi cách ướp xác Hồ Chí Minh, để sau đó ướp cho Mao Trạch Ðông đã cho biết một bên tai trái xác Hồ đã bị long, rụng ra, và được dán lại bằng một loại keo đặc biệt. Phần sống mũi, sụn mũi bị hủy hoại, teo co lại và sụp xuống, được đắp vá, và tái tạo bằng sáp nhân tạo, và râu cằm đã bị rơi rụng ra. Xem hình lau rửa xác ướp Lê nin bị mổ bụng http://xacuoplenin.blogspot.com. Hình th ấ y gh ê r ợ n qu á n ê n khuy ế n c á o C ấ m tr ẻ em v à ng ườ i y ế u tim ! Hiện nay xác "Hồ giả 3" đã bị hủy hoại nhiều, bị đặt vào trong hầm lạnh đông cứng vàđược che giấu. Cái xác được trưng bày ra cho người xem là xác giả làm bằng thạch cao, nhằm đánh lừa người dân và du khách. Những người dân viếng Lăng thăm xác Hồ, nhưng là Hồ Tàu, mà lại còn bằng thạch cao nữa. Toàn là giả dối !

Ngày nay, Lăng Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình là nơi chứa đầy sự lừa dối công khai được bạo lực Cộng sản bảo vệ, và cũng là một biểu tượng ô nhục kéo dài trong Lịch sử dân tộc Việt Nam. H Ồ gi ả 4 - Là người Tàu. Làm người mẫu vẽ Hình chân dung giả mạo Hồ Chí Minh.
- Năm 1969, lo sợ Hồ chết thì không còn biểu tượng dùng để cai trị dân Việt Nam, Trung Quốc tổ chức tìm kiếm và tuyển lựa những người Tàu có gương mặt hao hao "Hồ giả 2", vàtìm được một ông già Tàu có khuôn mặt khá đẹp lão nhưng mặt tròn và mắt ti hí.
- Chúng cho ông già làm người mẫu, để họa sĩ vẽ làm giả Hình chụp chân dung Hồ ChíMinh. Nhưng các họa sĩ Cộng sản Tàu không quen vẽ chân dung nên vẽ rất xấu, nhìn làbiết tranh vẽ, không thể dùng giả làm hình chụp, không lừa gạt được người xem. Tuy cốgắng vẽ đi vẽ lại nhiều lần, nhưng cho đến ngày tang lễ Hồ cũng chưa vẽ được đẹp, đành phải đem ra trưng bày. Do đó trong phim tài liệu tang lễ Hồ Chí Minh do Nhật quayđược, chỉ thấy có hình tranh vẽ Hồ Chí Minh chứ không có hình chụp. Tranh vẽ này HồChí Minh có mắt hơi ti hí.

Sau ngày tang lễ, Cộng sản nhờ họa sĩ Liên sô vẽ lại một chân dung khác, sửa mắt ti híthành mắt to, mặt tròn thành mặt dài, thay đổi áo, sửa lại tóc và râu v.v... cuối cùng tạo ra một chân dung rất đẹp.

Cộng sản đem tranh vẽ này làm giả thành Hình màu chụp chân dung Hồ Chí Minh để lừa gạt người dân Việt Nam. Rồi từ Hình màu này, Cộng sản làm ra hình trắng đen, để dùng trong bảo tàng, hay trong một số trường hợp cần giả cổ để lừa gạt mọi người.
Tuy nhiên, chính vì biết đây là đồ giả mạo nên truyền thông báo chí truyền hình ở nước ngoài không bao giờ sử dụng các hình này.
Chính phủ Việt Nam cũng không dám sử dụng các hình giả mạo này khi giao tiếp với nước ngoài. Hãy xem một áp phích của Chính phủ Việt Nam cổ động kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh dùng hình chụp thật !
Điều đáng buồn là Chính phủ Cộng sản không dám lừa gạt người nước ngoài nhưng lại tàn nhẫn lừa gạt người dân của mình.

 
NHÀ TRƯNG BÀY HỒ CHÍ MINH LÀ NGƯỜI TÀU
Nhà trưng bày Hồ Chí Minh là người Tàu ở đâu ? Dĩ nhiên là nằm ở bên Tàu rồi, lựa làphải hỏi ! Sau khi "Hồ giả 2" quay về quê hương Trung Quốc đã trở thành anh hùng. "Hồ giả 2" viết chữ Việt và ký tên Hồ Chí Minh, để lưu lại chứng tích xác nhận mình chính là Hồ ChíMinh và là một người Tàu. Trung Quốc cho chụp ảnh, thu âm và làm các phim tài liệu vềHồ Chí Minh Tàu này. Trung Quốc cho xây dựng "Nhà trưng bày Hồ Chí Minh" phân chia ra 2 khu vực. "Khu vực 1 trưng bày Hồ Chí Minh là người Tàu" là nơi trưng bày hình ảnh, âm thanh, phim tài liệu và các hiện vật chứng tích xác nhận quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh Tàu tại Việt Nam. Nơi này dành cho các cán bộ Trung Quốc đến tham quan và học tập kinh nghiệm của Hồ Tàu. "Khu vực 2 trưng bày Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Hoa" là nơi trưng bày những bằng chứng về tình hữu nghị Trung - Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam và là bằng hữu của Nhân dân Trung Hoa, những ký kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc. Ngoài văn bản ký kết của Phạm Văn Đồng công nhận lãnh hải của Trung Quốc năm 1958, còn quan trọng nhất là văn kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh xác nhận Việt Nam chính là 1/2 tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc, sẽ được Lê Duẩn kế thừa Chủ tịch Hồ Chí Minh bắtđầu giao trả dần Bắc phần đến Trung phần cho Trung Quốc kể từ ngày 19/05/2005 ngày kỷniệm 115 năm sinh nhật bác Hồ. Văn kiện này được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết tại Quảng Tây, Trung Quốc. Những lãnh đạo Cộng sản cao cấp tại Việt Nam được cho tham quan "Khu vực 2 trưng bày Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Hoa", sau khi tận mắt thấy tai nghe chúng không nghĩcách cứu nước mà còn theo lệnh Trung Quốc gây chia rẽ Cộng sản với Công giáo để dễdàng đưa quân đội Tàu vào Tây Nguyên. "Hồ giả 2" thật hạnh phúc, hắn là một con dân Trung Quốc, một cháu ngoan Mao TrạchĐông, nhưng là một Cha già dân tộc Việt Nam. Tên tuổi Hồ Tàu sẽ được ca ngợi mãi mãi trong sử sách Trung Quốc và trong sử sách Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, Nhân dân Việt Nam đã biết những văn kiện bán nước là do "Hồ giả" ký kết nên không có giá trị gì. Chỉ đau buồn cho non sông đất Việt, là đảng Cộng sản vẫn cố tình bịt miệng sự thật, sẵn sàng để mất nước mà không chút bận lòng.
T Ổ NG K Ế T Viết về những người cùng mang tên Hồ Chí Minh, thật không dễ vì có quá nhiều dữ liệu. Tuy vậy, Tôi cũng cố gắng chọn ra một số điểm đặc trưng của mỗi người để người đọc cóthể nhận ra được từng nhân vật. Qua bài viết này, người đọc sẽ nhận ra mình đã từng bịlừa đảo khi quá tin tưởng vào những tài liệu mà Cộng sản làm giả. Những ai là Cộng sản, có thắc mắc thì gửi email đến các website của Chính phủ VN - Quốc hội - đảng CS, hay trực tiếp đi hỏi các cán bộ lãnh đạo địa phương, hay bét nhất là trong các buổi họp đảng. Còn nếu không dám mở miệng thì phải biết bản thân đã bịđảng CS biến thành con gì rồi, không còn là con người. Chú ý đảng CS sẽ bắt vô tùnhững ai dám tìm hiểu sự thật. Một thực tế đáng buồn là trong nước Việt Nam có Nghệ Sĩ Nhân Dân làm phim tài liệu lừa dối Nhân Dân, hay Nhà Sử học nổi tiếng thì lại luôn ca ngợi Hồ Tàu. Điều hơi khó khăn khi viết là phim và ảnh tài liệu phải chịu sự chi phối của Luật Bản quyền. Tôi cũng xin nhắc các bạn chú ý điều này. Những bí ẩn chung quanh cái tên Hồ Chí Minh rồi sẽ dần được nhiều người khám phá và công bố.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 31 Tháng 5 2013 13:29

Lê Nin ở Hà Nội là chứng minh đảng việt cộng là tay sai quốc tế vô sản

Email In PDF.

 Công viên Lê Nin Hà Nội Chứng Minh Đảng Việt Cộng là Tay Sai Quốc Tế Vô Sản

 
Sự ra đời của ĐCS phản ánh cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đến thời kỳ tự giác. ĐCS là sản phảm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mac-Lênin với phong trào công nhân. Lý luận về tính tất yếu của sự kết hợp ấy đã được đề ra trong học thuyết Mac- . Lênin. Song, trong mỗi nước, sự kết hợp ấy lại là một sản phẩm của lịch sử, lại được thực hiện bằng con đường riêng biệt, tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian.
- Việt Nam là một quốc gia dân tộc được hình thành từ rất sớm, có nền văn hiến lâu đời, trong đó, yêu nước là truyền thống quý báu và đặc sắc, là chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc VN. HCM sớm nhận thức được rằng, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước.
- Thực hiện hoài bão cứu nước cứu dân, HCM đã đến với chủ nghĩa Mac- Lênin, đi theo con đường CMVS, chuẩn bị thành lập ĐCSVN để tổ chức va lãnh đạo nhân dân giành độc lập tự do. Đầu năm 1930, HCM đã chủ động, quyết đoán, độc lập và sáng tạo, nhanh chóng thống nhất các tổ chức cộng sản riêng lẻ để thành lập ra ĐCSVN.
- Khái quát về sự hình thành ĐCSVN, HCM đã nêu ra trong tác phẩm Thường Thức Chính Trị, viết năm 1953, rằng: Đảng kết hợp phong trào CMVN với chủ nghĩa Mac- Lênin. Năm 1960, Người lại viết: Chủ nghĩa Mac- Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng đầu năm 1930.
+ Đây là luận điểm mới của HCM về sự hình thành ĐCSVN. Trong khi khẳng định quy luật chung của sự ra đời ĐCS, Người đã đánh giá cao phong trào yêu nước VN, xem nó như một trong các nhân tố hình thành nên ĐCSVN.
+ Luận điểm ấy vừa quán triệt đầy đủ học thuyết Mac- Lênin về ĐCS vừa phù hợp với hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, có truyền thống yêu nước lâu đời, nơi mà số lượng công nhân còn ít nhưng có mốiquan hệ chặt chẽ với phong trào yêu nước ngay từ khi mới ra đời.
+ Đó là kết quả của sự vận dụng sáng tạo quan điểm xây dựng Đảng kiểu mới của Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của VN. Luận điểm đó của HCM không những có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình CMVN mà nó còn có ý nghĩa quốc tế to lớn, nhất là với những nước có hoàn cảnh tương đồng.

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 31 Tháng 5 2013 13:49

38 năm sau 1975, người Việt Nam lại vượt biển

Email In PDF.
 
460 thuyền nhân Việt Nam kể cả phụ nữ và trẻ em đã đến Úc trong 4 tháng đầu 2013. Gần 40 năm sau ngày Việt Nam thống nhất trong chế độ "xã hội chủ nghĩa", hiện tượng người vượt biển lại tăng cao, bằng tổng số thuyền nhân đến Úc trong 5 năm trước.
Tuy nhiên, chính sách tỵ nạn của Canberra đã khác, không rộng lượng như thời thập niên 80,90 khi hàng triệu người bỏ nước. Người vượt biển bị tạm giam trong các trại cách ly với tương lai mờ mịt.
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, trong gần hai thập niên sau ngày 30/04/1975, hơn 1,3 triệu người Việt Nam vượt biên, vượt biển đi tỵ nạn. Trong số này , Liên Hiệp Quốc thẩm định từ 200.000 đến 400.000 người không đến được bến bờ hoặc chết vì tàu bị đắm, bị hải tặc Thái Lan sát hại. Trong khoảng thời gian này, Hoa Kỳ đón nhận 823.000 thuyền nhân , Pháp 96.000, Úc cũng như Canada nhận 137.000 người, Anh quốc 19.000.
Nhưng vào năm 2013, nguyên nhân nào lại thúc đẩy hàng trăm người Việt Nam vượt biển ? Theo luật sư Úc Keye Bernard, trong số thuyền nhân mới đến có một số tín đồ Công giáo từng tham gia tranh đấu bảo vệ giáo xứ Thái Hà. Một số khác bị truy bức trong các vụ tranh tụng đất đai bị nhà nước trưng thu.
Tuy nhiên, chính sách tỵ nạn của Úc, quốc gia tây phương duy nhất gần Việt Nam và cũng là điểm đến của những con người muốn có cơ hội xây dựng đời sống mới, đã trở nên gắt gao hơn. Số phận thuyền nhân ra sao ? Phải trở về Việt Nam hay có hy vọng được định cư ? Trong số 101 thuyền nhân đến Úc trong năm 2011, có sáu người bị đưa về Việt Nam.
Hôm qua 22/05/2013, một phái đoàn của Cộng đồng Việt Nam Tự Do tại Úc đã gặp thủ tướng Julia Gillard vận động chính phủ Úc về vấn đề thuyền nhân. Sau khi nhận được tin nhắn cầu cứu của hai thuyền nhân từ đảo Manus gửi cho RFI, ban biên tập chúng tôi đặt câu hỏi với nhà báo Lưu Tường Quang từ Sydney.
Nhà báo Lưu Tường Quang : « Trong những ngày qua, báo chí quốc tế và Úc đều loan tin có sự gia tăng rất đáng kể của thuyền nhân Việt Nam từ Việt Nam hoặc qua trung gian tại Indonesia đến Úc trong 4 tháng đầu năm 2013 : 460 người xin tầm trú tại Úc. Đây là con số đáng kể nhiều hơn của 5 năm về trước . Có người cho rằng đây là vì lý do kinh tế nhưng cũng có người cho rằng đây là hậu quả của chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Hà Nội đối với nhân quyền, tự do ngôn luận và chính kiến tại Việt Nam.
Có thể, tất cả những lý do đó đều đúng ….nhưng cần phải xem kỷ những thuyền nhân này có lý do chính đáng khi họ liều lĩnh vượt biển tìm tự do tại Úc và những hậu quả khi họ đến lãnh thổ, lãnh hải của Úc thì họ phải đối diện với những khó khăn gì để những ai bị giam cầm trong các trại tỵ nạn tại Úc hiểu rõ tiến trình họ phải đi qua và những ai bị đối xử tàn tệ vì lý do nhân quyền vì lý do chính kiến thì họ sẽ có thể làm gì, suy nghĩ gì cho tương lai của họ…
Nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng thuyền nhân gia tăng : « Nhà cầm quyền Việt Nam đương nhiên phải nói là người đi tầm trú là vì lý do kinh tế vì nếu nhìn nhận những thuyền nhân ra đi vì lý do chính trị thì điều đó là một phản ảnh tiêu cực về chế độ của họ…. Nếu chúng ta nhìn lại cái tiến trình cho đến năm 2006 khi Hà Nội tổ chức (thượng đỉnh) Apec thì Hà Nội đã phần nào nới tay đến mức độ mà tổng thống Mỹ George W. Bush đã lấy tên CHXH Chủ nghĩa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần ưu tư (về tự do tôn giáo)….Trước khi gia nhập WTO ( Tổ chức Thương mại Thế giới) thì họ cũng có những biện pháp gọi là tạm thời cởi mở cho đến 2007.
Tuy nhiên, sau hội nghị Apec năm 2006 và được vào WTO đầu năm 2007 thì CHXHCN Việt Nam sử dụng những điều luật 79, 88 tuyên truyền chống phá nhà nước và âm mưu lật đổ chế độ là những điều khoản đi ngược lại với những điều khoản bảo vệ tự do ngôn luận, tự do phát biểu ý kiến có ghi trong Hiến pháp 1992 của Việt Nam cũng như hoàn toàn đi ngược lại với công ước quốc tế về quyền chính trị mà Việt Nam là thành viên kết ước… nhà cầm quyền Hà Nội mỗi ngày mỗi siết chặt và gia tăng đàn áp những người yêu nước, những thanh niên sinh viên tranh đấu cho tự do dân chủ.
Ngay giờ phút này, 8 thanh niên Công giáo ở Nghệ An đang bị xét xử phúc thẩm và mới đây vài ngày sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha bày tỏ lòng yêu nước, họ nói vì tổ quốc chống ngoại xâm, vì tiền đồ dân tộc chống tham nhũng là những điều được gọi là chính sách của nhà nước thế nhưng họ bị kết ánt ù rất nhiều năm tại tòa án tỉnh Long An.
Rõ ràng là chính sách đàn áp nhân quyền đã đưa đến tình trạng nhiều người bỏ nước ra đi. Nếu căn cứ vào định nghĩa của « người tỵ nạn » thì những ai có bằng chứng đang lo sợ bị hành hạ, bị bắt bớ bị tù đày vì lý do chính kiến, hoặc vì lý do chủng tộc hay tôn giáo thì họ thỏa mãn định nghĩa về « người tỵ nạn » theo điều khoản thứ nhất trong Công ước quốc tế về người tỵ nạn 1951-1967.
Trên căn bản đó, nếu họ có ao ước, những hoài bão để cải thiện đời sống kinh tế thì cái hoài bão đó không loại trừ cái khả năng họ được chứng nhận là người tỵ nạn vì căn nguyên cốt lõi vẫn là cái nỗi lo sợ bị trừng phạt, bị tù đày, bạc đãi vì lý do chính kiến hay vì lý do tôn giáo.
Chính sách của Úc đối với thuyền nhân Việt Nam : Từ năm 2012, Úc áp dụng « giải pháp Thái Bình dương , tạm giam thuyền nhân trong các trại di trú trên đảo Nauru và Manus. Đặc điểm của « giải pháp » này là những thuyền nhân tới Úc phải chờ đợi một khoảng thời gian bằng với thời gian đáng lẽ họ phải chờ ở Indonesia để được cứu xét.
Thuyền nhân bị giam trên đất liền hay trên các đảo Christmas, Manus, hãy bình tĩnh chờ đợi … Cộng đồng Việt Nam tại Úc là cộng đồng tỵ nạn và không bao giờ quên đồng hương của mình đang ở trong tình trạng khó khăn. Ngày hôm qua, một phái đoàn của Cộng đồng Người Việt Tự Do, có cả tôi, đã đến gặp thủ tướng Úc Julia Gillard để tranh đấu cho thuyền nhân Việt Nam đang bị giam giữ. Chúng tôi nói hầu hết thuyền nhân Việt Nam không phải là tỵ nạn kinh tế mà vì lý do chính trị.
Tuy nhiên đây là vấn đề hồ sơ, một vấn đề bằng chứng. Cho nên thuyền nhân muốn xin tư cách tỵ nạn thì cần phải chuẩn bị bằng chứng cụ thể , những lý do có cơ sở vững chắc vì lời khai đầu tiên nó có ảnh hưởng đến vấn đề cứu xét…tôi đương cử hai trường hợp cụ thể. Trường hợp thứ nhất là tàu Hào Kiệt với 53 thuyền nhân đến miền tây Úc năm 2003….. tất cả đều được định cư… ».
 
Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 28 Tháng 5 2013 13:48

Khảo Luận: Hồ Chí Minh, Cuộc Đời Của Một Con Ngựa Hoang

Email In PDF.

KHẢO LUẬN: HỒ CHÍ MINH, CUỘC ĐỜI CỦA MỘT CON NGỰA HOANG By WILLIAM DUIKER

1 2 3 4 5 6

TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN ĐỐI VỚI QUÂN CÁN CHÍNH VÀ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

HỒI KÝ NHỮNG NĂM THÁNG LƯU ĐÀY TRONG NGỤC TÙ CỘNG SẢN CỦA DUYÊN ANH

1 2 3 4 5 6 7 8

HỒI KÝ HOA XUYÊN TUYẾT CỦA BÙI TÍN

1 2 3 4

HỒI KÝ 7 NGÀY Ở CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ CỦA TRUNG ÚY NGUYỄN NGỌC ẨN

1 2

HỒI KÝ CÁT BỤI CHÂN AI CỦA TÔ HOÀI

1 2 3

HỒI KÝ GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ CỦA NHÃ CA

1 2 3 4 5

HỒI KÝ MỘT CƠN GIÓ BỤI CỦA TRẦN TRỌNG KIM

1 2 3

HỒI KÝ BA PHÚT SỰ THẬT CỦA PHÙNG QUÁN

1 2 3 4

HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI

1 2 3 4 5 6 7 8

NHỮNG TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN ĐỐI VỚI QUÂN CÁN CHÍNH VÀ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

HỒI KÝ KHÔNG TÊN CỦA TÊN ĂN CƠM QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN LÝ QUÝ CHUNG

1 2 3 4 5 6

HỒI KÝ THÁNG BA GÃY SÚNG CỦA CAO XUÂN HUY

1 2

HỒI KÝ CỦA LOẠN TƯỚNG ĐỖ MẬU: VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI

1 2 3 4 5 6 7 8

CHẾT DƯỚI TAY TRUNG CỘNG

1 2

HỒI KÝ NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC CỦA TÂM PHONG

1 2 3

HỒI KÝ MỘT NGÀY GIÔNG TỐ CỦA TÂM PHONG

1 2 3 4

KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA

1 2 3 4 5 6 7 8

HỒI KÝ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

12 Videos: CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM 1954-1975: CUỘC CHIẾN TRANH KHÔNG TUYÊN BỐ

HỒI KÝ SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT CỦA DUYÊN ANH

1 2 3 4 KỲ CUỐI

HỒI KÝ CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

1 2 3 4 5 6 7 8 Kỳ Cuối

HỒI KÝ NGUYỄN HỘ

HỒI KÝ TRẦN ĐỘ

1 2 3 4 5

HỒI KÝ ĐỒNG BẰNG GAI GÓC CỦA XUÂN VŨ

1 2 3 4

HỒI KÝ ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ

1 2 3

HỒI KÝ MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG CỦA XUÂN VŨ

1 2 3 4 5

HỒI KÝ ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ

1 2 3 4 5

HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG SƠN CỦA XUÂN VŨ:

1 2 3 4 5 6 Kỳ Cuối

NHẠC SỸ TÔ HẢI - HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN

1 2 3 4 5 Kỳ Cuối

HỒI KÝ BÊN GIÒNG LICH SỬ CỦA LINH MỤC CAO VĂN LUẬN:
1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14. 15.

HỒI KÝ NGUYỄN HỮU HANH:

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

HỒI KÝ CỦA TRẦN QUANG CƠ

1. - KỲ 1 2. KỲ 2 3. KỲ 3 4. KỲ CUỐI

HỒI KÝ TÔI ĐI TÌM TỰ DO CỦA NGUYỄN HỮU CHÍ:

1.0 KỲ 1 ĐẾN KỲ 20 2.0 KỲ 21 ĐẾN KỲ 40 3.0 KỲ 41 ĐẾN KỲ 60

4.0 KỲ 61 ĐẾN KỲ 80 5.0 KỲ 81 ĐẾN KỲ 95 6.0 KỲ 96 ĐẾN HẾT

HỒI KÝ VÕ LONG TRIỀU: MỐC LỊCH SỬ

1. KỲ 1 ĐẾN 10 2. KỲ 11 ĐẾN 20 3. KỲ 21 ĐẾN 30

4. KỲ 31 ĐẾN 40 5. KỲ 41 ĐẾN Hết 6. PHẢN HỒI CỦA DƯƠNG ĐỨC

Audio Book: THIÊN HỒI KÝ TRẠI KIÊN GIAM CỦA NGUYỄN CHÍ THIỆP

Audio Book: THIÊN HỒI KÝ THÉP ĐEN CỦA ĐẶNG CHÍ BÌNH

HỒI KÝ TÔI PHẢI SỐNG - LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ

1 - 2 3 - 4 5 - 6 7 - 8 9 - 10 11 - 12 13 - 14 15 - 16 17 - 18 . 19 20 21- 22 23-24 25 - 26 27 - 28 29 - 30 31- 32

33 - 34 35 - 36 37 - 38 39- 40 41- 42 43 - 44 45 - 46 47- 48
49- 50 TỘI ÁC CỦA BÙI ĐÌNH THI

HỒI KÝ ĐÊM GIỮA BAN NGÀY - VŨ THƯ HIÊN

15. CHƯƠNG 15 16. CHƯƠNG 16 17. CHƯƠNG 17 18. CHƯƠNG 18

19. CHƯƠNG 19 20. CHƯƠNG 20 21. CHƯƠNG 21 22. CHƯƠNG 22

23. CHƯƠNG 23 24. CHƯƠNG 24 25. CHƯƠNG 25 26. CHƯƠNG 26

27. CHƯƠNG 27 28. CHƯƠNG 28 29. CHƯƠNG 29 30. CHƯƠNG 30

31. CHƯƠNG 31 32. CHƯƠNG 32 33. CHƯƠNG 33 34. CHƯƠNG 34

35. CHƯƠNG 35 36. CHƯƠNG 36 37. CHƯƠNG 37 38. CHƯƠNG 38

39. CHƯƠNG 39 40. CHƯƠNG 40 41. CHƯƠNG 41 42. CHƯƠNG KẾT

BÊN THẮNG CUỘC

1 2 A 2 B 3 4 5 6 7

8 10 11 12 13 14 15 16

17 18 19 20 21 22 KẾT

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 31 Tháng 5 2013 13:45

30 tháng Tư: ba câu chuyện

Email In PDF.

Lại thêm một ngày 30 tháng Tư qua đi và cho tới nay  giới học giả đã phân tích chuyện “thắng - thua” qua đủ ngóc ngách và góc nhìn nhưng vẫn còn thiêu thiếu cái gì đó.

Đó là tính nhân bản và tính pháp trị của thể chế Việt Nam Cộng Hoà (VNCH): VNCH thua là do nhân bản hơn cộng sản, tôn trọng pháp luận hơn cộng sản.  Để khách quan, chúng ta sẽ nhìn vấn đề này qua lời của chính những kẻ hoạt động cho cộng sản: một phi công nằm vùng, một gián  điệp cộng sản và một lãnh tụ sinh viên đấu tranh.
 
Phi Công Nằm vùng
Ngày 26.4.2013 báo Sài Gòn Tiếp Thị đăng bài “Có một giờ G khác vào năm 1974”của Trung Dũng và Minh Nguyễn, phỏng vấn cựu phi công nằm vùng Nguyễn Thành Trung (NTT).
Bài này có một đoạn đáng chú ý, nói về cách đối xử của chính quyền VNCH với vợ con của anh ta hành động ném bom vào Dinh Độc Lập:
PV: “Thời khắc đó ông có nghĩ đến sự an toàn của vợ và hai con còn quá nhỏ đang sống ở thành phố Biên Hoà? Có khi nào ông cảm thấy khổ tâm hay hối hận về hành động của mình  mang lại nỗi vất vả cho vợ con?”
NTT: “Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng giải phóng để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ bị lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước 10 năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn.
Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Một tuần sau vợ và con tôi bị đưa từ Biên Hoà về số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Sài Gòn cho đến ngày 30.4.1975. Đương nhiên, họ vẫn điều tra vợ tôi về những gì liên quan đến tôi, nhưng không bị đối xử vô nhân đạo. Có thể đó là những người có học và biết cách ứng xử một cách văn hoá với người thân của kẻ thù. Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tướng không quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ.
Vậy đó, ngày 2.5.1975, tôi lái máy bay từ Phan Rang về sân bay Biên Hoà. Vợ con tôi cũng vừa được giải thoát khỏi số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi gặp lại nhau trong ngôi nhà nhỏ của mình.”
 
Điệp viên “siêu hạng”
Năm 2004 báo Thanh niên đã đăng phóng sự dài kỳ mang tên "Ông tướng tình báo bí ẩn và những điệp vụ siêu hạng" của Hoàng Hải Vân. Phóng sự này  nói về  Đặng Trần Đức, sau này  thiếu tướng quân báo cọng sản, và trước năm 1975 là “Trung tá Nguyễn Văn Tá”, làm việc trong Phủ đặc ủy tính báo VNCH.
Năm 1974 Đức b ị lộ nên bỏ trốn ra mật khu, để vợ con lại Sài Gòn và  họ đã được chính quyền VNCH đồi xử như thế nào?
Phóng sự kỳ thứ 27 tả lại giai đoạn này, trong đó bà vợ Ngô Thị Xuân cho biết bà bị bắt và bị tra tấn “mặt mũi sưng vù” và đó là chuyện chúng ta hiểu được
Nhưng người con trai thứ ba của kẻ nằm vùng, cũng bị bắt vì tiếp tay cho bố,  thì cho biết:
"Trong thời gian này tôi đang chuẩn bị thi tú tài. Những người trong Phủ Đặc ủy bảo với tôi: Chúng tôi biết anh đang chuẩn bị thi tú tài, anh khai thì cứ khai, nhưng trong thời gian rảnh, chúng tôi sẽ mang sách vở đến cho anh học thi. Và quả đúng như thế, họ bảo tôi viết thư gửi về nhà và cho người đến gặp anh tôi, cậu tôi để lấy sách vở mang vào cho tôi học thật. Hỏi cung liên tục hơn 2 tháng, một hôm chúng đem những tấm hình tài liệu ra hỏi: Có phải anh chụp những tấm hình này không ? Tôi đáp: Đúng là tôi chụp. Chỉ vào 2 dấu vân tay, chúng hỏi tiếp: Dấu tay này là của ai ? Tôi đáp: Của bé Hạnh, em gái tôi. Sau đó chúng bảo sẽ chở mẹ con tôi đi để thả về. Nhưng mẹ tôi nói với tôi rằng: Chúng sẽ không thả đâu con. Và đúng như mẹ tôi nói. Chúng đưa chúng tôi lên xe chở đi, đến khi chúng mở băng bịt mắt thì tôi thấy nguyên một dãy nhà tù, sau này tôi mới biết đó là Trung tâm Thẩm vấn của Tổng nha Cảnh sát...".
"Trong thời gian mẹ tôi và tôi ở trong nhà giam, ở nhà anh tôi một mình nuôi hai đứa em. Trước anh tôi cũng học Trường Lasan Đức Minh, đỗ tú tài 2 xong, do học giỏi, anh được cấp học bổng đi du học Colombia (Mỹ), Trường Đức Minh có 2 người được học bổng du học đợt đó, nhưng bố tôi không cho đi, nên anh thi và đỗ vào Trường Phú Thọ. (...)
Khi bố tôi bị lộ, mẹ tôi và tôi bị bắt, Trường Phú Thọ chỗ anh tôi học không gây khó dễ gì cho anh tôi cả. Anh tôi vừa đi học, vừa đi làm, vừa đi dạy kèm. Giám học Trường Lasan Đức Minh là fère Bénile, thấy hoàn cảnh gia đình tôi như vậy cũng giúp đỡ bằng cách giới thiệu cho anh tôi đi dạy thêm. Trong những học trò mà anh tôi dạy có cả con của trung tướng Ngô Du, Tư lệnh Quân đoàn 2. Còn tại cư xá nhà tôi ở, phía dưới là nhà trung tá Ngọ, phi công. Bên cạnh là nhà ông Đán, trợ lý của linh mục Hoàng Quỳnh. Cạnh ông Đán là nhà ông Thụ, thiếu tá Biệt khu thủ đô. Trên lầu là 2 ông ở Bộ Nội vụ, cạnh đó là nhà ông Lộc, ông Phúc, ở Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo. Đối diện cầu thang nhà tôi là nhà đại tá Nguyễn Văn Y, trước là Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia thời Ngô Đình Diệm, lúc đó đã về hưu... Xung quanh toàn là những người như vậy cả, nhưng khi biết bố tôi là Việt cộng rồi mà không ai có định kiến gì. Ngay cả những người ở Phủ Đặc ủy cũng kêu anh tôi đến dạy cho con họ. Có lẽ do cách sống, cách ăn ở của bố tôi làm ai cũng có cảm tình, nên khi biết ông là Việt cộng rồi mà không ai sợ liên lụy cả. Chính vì vậy mà anh tôi mới có việc làm nuôi hai đứa em ăn học bình thường...".
Trong khi đó thì vợ   và hai  con của  Đức  ở miền Bắc  bị đối xử khác hẳn với lý lịch của gia đình "làm tay sai cho địch".
Việc Đức làm tình báo thì chỉ có giới lãnh đạo cấp cao nắm được và để bảo vệ bí mật, việc này lại giữ kín. Vậy là vợ con Đức bị các chính quyền cấp dưới hành hạ theo đúng chính sách và nghị quyết đảng!
Từ Hà Nội, gia đình bị tống về một nông truờng ở Phú Thọ, “cực khổ trăm bề”,  họ “bị chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác phân biệt đối xử, con cái không được học hành”.  Tác giả viết:
Bà Đặng Thị Chính Giang (con gái) kể: “Chuyện học hành của chị em tôi nhiêu khê lắm. Khi tôi học đến lớp 4, tự nhiên nhà trường không cho học nữa. Hồi ấy vào đầu năm học, những cháu gặp khó khăn hoặc gia đình bộ đội, gia đình cán bộ công nhân viên thì được nhà trường cho sách giáo khoa hoặc tập vở, còn tôi thì không có gì. Lại có tin bố tôi là phản động chạy theo địch nên họ không cho học tiếp. Mẹ tôi phải nhờ một ông ở nông trường đứng ra can thiệp thì tôi mới được học tiếp, nhưng cũng không được cấp sách vở. Tôi là học sinh giỏi văn đấy, nhưng trường cũng không cho đi thi. Cho đến khi tôi học xong lớp 5, thì trên Cục (cơ quan tình báo quân đội - PV) thông báo cho tôi vào học trường học sinh miền Nam dành cho nữ, khi ấy ở Hải Phòng. Thế là mẹ tôi cho tôi về Hà Nội để chờ nhập học. Tôi chờ hết tháng 8, không thấy gọi, sang đến sau mùng 2 tháng 9 cũng không thấy gọi. Ông nội tôi mới lên Cục hỏi thì các anh ấy bảo: Nếu cho cháu vào học thì anh ấy (ông Ba Quốc - PV) sẽ bị lộ. Các anh trong Cục chỉ nói với ông và mẹ tôi thôi, còn với tôi thì họ nói ngắn gọn: Trường miền Nam đủ học sinh rồi, không nhận nữa. Tôi phải về lại Phú Thọ....”.
Chuyện học của chị Giang là như vậy, nhưng chị bảo chuyện học của em trai chị còn phức tạp hơn nhiều. “Cũng long đong như tôi, cậu ấy học xong cấp 2 thì họ cũng không cho học nữa. Mẹ tôi gọi tôi về bảo ra trường cấp 3 xin cho em, nếu không cho học chính quy thì học dự bị cũng được. Nhưng họ dứt khoát không cho. Chính quy cũng không cho mà dự bị cũng không cho. Thế là cậu ấy phải về nông trường đi làm mất một năm, nói chính xác là đi chặt nứa về bán cho nông trường….”.
Người em trai chị Giang còn cho biết, giữa lúc chiến tranh diễn ra ác liệt, anh đã đăng ký vào bộ đội nhưng cũng vì lý lịch “không trong sạch” của anh mà người ta đã không cho anh nhập ngũ.”
 
Lãnh tụ đấu tranh
Ngày 5-11-2012, một nhân vật thuộc hàng thủ lĩnh trong giới sinh viên đấu tranh tại Sài Gòn trước năm 1975 là Hạ Đình Nguyên công bố trên mạng viet-studies bài “Nguyễn Phương Uyên: Tôi có thể làm gì cho em”:
“Tôi đọc tin Em bị bắt, cũng như trước đây, đọc tin em Huỳnh Thục Vy, Vĩnh Khang,…. và nhiều nữa, nhiều thanh niên mà tôi không nhớ tên hết, cả những người bị bắt mà không có tên…tôi hiểu những gì đang diễn ra trên đất nước chúng ta.
Tôi không khỏi ray rứt, thấy sự bất an  trong lòng, vì không thể làm gì được cho các em, như để cùng chung hành trình, thậm chí chỉ để chia sẻ. Hình ảnh của các em là hình ảnh của chính chúng tôi ngày xưa đang sống lại, cũng ở cái tuổi đầy nhiệt huyết như các em bây giờ.
Cách đây hơn 40 năm, những năm tháng mà thế hệ chúng tôi khó quên. Khó quên không phải vì hận thù, vì tiếc nuối, vì bất mãn thời cuộc, hay vì bất cứ lý do nào khác, mà vì những kỷ niệm đẹp của trái tim tuổi trẻ trong sáng, đã dám đứng lên vì một cảm xúc lớn. Cái từ ngữ đồng bào thuở ấy rất thiêng liêng. Chúng tôi không biết gì về mọi thứ mưu toan của người lớn, hay của thời cuộc. Chúng tôi hồn nhiên bay trong tình tự dân tộc, bất chấp hiểm nguy để chống xâm lược.
Chúng tôi biết rằng cách mà họ bắt các em hiện nay, cũng giống cách mà chúng tôi bị bắt ngày xưa. Họ bắt bất cứ lúc nào và ở đâu. Ở nhà trọ, trong ký túc xá, tại cổng trường, trong công viên, khi đang đi trên đường, đang lúc ngồi chơi với bạn bè. Những người mặc thường phục, có súng ngắn bên trong, nhanh như cọp dữ, họ nhảy vào, khóa tay chân, gùi lại và quăng vào xe. Con mồi của họ nằm im re trong rọ, và từ đây không còn thấy ánh sáng mặt trời. Họ đưa con mồi vào hang tối, cái ngóc ngách xó xỉnh nào đó, nhiều lắm, ngay trong cái thành phố sáng sủa nầy, nhưng không ai biết hay nhìn thấy được. Thế rồi họ tra tấn và đánh đập bằng khá nhiều kỷ thuật tân kỳ, song song với những đòn tâm lý, áp đảo tinh thần một cách hiểm ác, và ép cung. Tác phẩm “Hồ sơ một Thế hệ” mà Thành Đoàn thanh niên ngày nay ghi chép lại, chưa phản ánh đủ vì nhiều lý do.
Điều mà chúng tôi đòi hỏi lúc đó là gì? Chúng tôi đòi hỏi, khi bắt phải có trát của tòa án, có Luật sư chứng kiến, dù là tạm giam để điều tra. Phải minh bạch và cho công luận biết. Phải đưa ra xét xử và có luật sư biện hộ, phải đúng quy trình tố tụng, phải có chứng cứ…và chứng cứ phải được xem xét là không ngụy tạo.
Đối tượng mà chúng tôi chống, lúc bấy giờ, là Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa, song lại có đôi điều mà trái tim công bằng của tuổi trẻ ghi nhớ như là nét son của một xã hội công dân – dù nó nó chưa tương xứng để gọi tên như thế– Tôi nhớ tại Tối Cao Pháp viện, Tổng thống VNCH – Nguyễn Văn Thiệu, đã đích thân đến Tòa án can thiệp, tranh luận tay đôi với Viện trưởng Nguyễn Minh Tiết, rằng cần phải kết án 21 SV trong số 42 SVHS đã bị bắt vừa qua là Việt Cọng, vì có bằng chứng minh bạch.
Ông Viện trưởng Tiết đã cương quyết bác bỏ, vì sự tra tấn dã man là bằng chứng của ép cung, lời cung đã khai không còn giá trị. Thế là hầu hết đã được trả tự do ngay sau phiên tòa. Trong đó có một số anh chị có vai trò trong tổ chức Thành đoàn CS. 
Dù các anh chị ấy có lập trường kiên định, một lòng trung thành với con đường lý tưởng đã chọn, song không khỏi ghi nhớ về tính cách của một vị quan tòa, và nguyên tắc, dù chưa phải là thực chất của một thể chế dân chủ, nhưng ở đó  có một số điểm tựa để cho người dân tin cậy, là hệ thống luật pháp về dân sự, dù thời điểm đó đang là chiến tranh.
[…]
Điều mà chúng tôi đòi hỏi ngày nay cho thế hệ trẻ các em, cũng là điều mà chúng tôi đòi hỏi cho thế hệ mình của nửa thế trước! Đó là đoạn đường quá dài và chua xót cho một Việt nam ở thế kỷ 21.”
Thay lời kết
Qua ba câu chuyện trên chúng ta thấy gì? 
Với Nguyễn Thành Trung, chế độ VNCH là chế độ của những người có học, và họ đã đối xử với kẻ thù của mình một cách có văn hoá. Sống trong Không lực VNCH, sản phẩm của chế độ VNCH, anh ta đã có được “niềm tin” rằng, nếu anh ta bị lộ nguyên hình là cộng sản nằm vùng, vợ con anh ta vẫn được đối cử tử tế.
Đặng Trần Đức và vợ con không nêu nhận xét, nhưng qua câu chuyện của họ, ít ra người đọc cũng cảm nhận cách ứng xử có văn hoá, có học thức của những giới chức VNCH lúc đó.
Còn Hạ Đình Nguyên thì bỏ một phần tuổi trẻ của mình ra đấu tranh để “giải phóng quê hương”. Sau đó, anh ta sống tiếp 37 năm trên “quê hương giải phóng” để rồi trăn trở với cái thực tế bẽ bàng: chế độ mà anh ta hy sinh tuổi trẻ để xây dựng hoàn toàn không có lấy một số điểm tựa để người dân tin cậy.
Trong hoàn cảnh chiến tranh thì chế độ VNCH, nền dân chủ đầu tiên trong lịch sử  Việt Nam hãy còn non trẻ nhưng vẫn có những điểm để người dân tin cậy cậy qua một “hệ thống luật pháp về dân sự”. Còn 38 năm hoà bình của nước CHCHCNVN chỉ đưa đất nước tiến gần đế chế độ với luật rừng, luật của mafia.
Với VNCH thì đối thủ của mình, những kẻ ham he lật đổ mình vẫn là con người. Nhưng với cộng sản thì hoàn toàn khác. Như có thể thấy từ các bằng chứng lịch sử rành rành như các vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, chống xét lại, cải cách ruộng đất, chính sách cải tạo v.v.. : chưa nói là kẻ chống lại họ, chỉ cần không bằng lòng đi chung một con đường thôi, đều bị họ đối xử như là con thú!
Như vậy, bên cạnh các yếu tố khách quan bên ngoài dẫn đến cái kết cuộc ngày 30.4.1975, một yếu tố không kém phần quan trọng làm nên kết cục của cuộc chiến. Đó là cuộc chiến của một chế độ tử tế với một chế độ lưu manh, giữa kẻ chính nhân quân tử với hạng mafia cường đạo, của con người với luật của người và con thú với luật rừng.
VNCH thua, một phần, là vì lý do này!
Lê Trọng Hiệp
Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 15 Tháng 5 2013 09:51

Trang 1 trong tổng số 15

Những dòng giao cảm
Trung Học Phan Châu Trinh
Ngày Thành Lập (có cập nhật)

Bác Sĩ tại Đà Nẵng trước 30 tháng 4

Thi Tập Trần Hoan Trinh

Giáo Sư PCT Đà Nẵng ( random image)

ThayTNQue.jpg
Đại Hội PCT Thế Giới kỳ II
HÌNH ẢNH*TIN TỨC*PHÓNG SỰ
Dư Âm Đại Hội PCT Thế Giới kỳ II
THI VÂN
Đại Hội PCT Thế Giới kỳ I
TOÀN TẬP VIDEOS BAOSON
BẠN BÈ MỘT THỜI PCT
bài viết của PHAN THU HÀ

Một thời PCT Đà Nẵng ( random image)

NguyenThiThem.JPG
bài viết của Thi Vân
Tập Ảnh "Trung Học PCT"
NGUYỄN DIỆU LIÊN HƯƠNG
Tiếng Hát PHAN CHÂU TRINH
PHƯỚC KHÁNH

Kinh Nghiệm về Cọng Sản

Dalai Lama: Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng đôc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời

PHAN CHÂU TRINH ĐÀNẴNG

Số lần xem bài viết : 1525178
You are here: KỶ NIỆM TRƯỜNG XƯA Tập Ảnh " Một thời để nhớ "