
We have 93 guests and no members online

Trong thời gian học PCT từ 1966 đến 1973 có năm nhân vật của lớp chúng mình có tên tuổi trong đội đá banh của Trường Phan Châu Trinh là : Bốn bạn được thầy Trần Gia Phụng tuyển chọn vào đội banh trường Phan Châu Trinh : 1/ Phạm Ngọc Thanh, trung vệ ( chết vì bệnh năm bắt đầu năm Đệ Nhất 1972 ) ; 2/ Nguyễn Văn Tá, tiền đạo góc trái ( sĩ quan Thủ Đức từ 1972 , bị cộng sản pháo chết mất xác 1973 tại Chương Thiện, Cần Thơ ); 3/ Nguyễn Văn Hý, hậu vệ ( sĩ quan Thủ Đức từ 1972, chết vì bị tàu hoả cán chết năm 2015 tại Đà Nẵng ); 4/ Hoàng KimPhước, thủ môn, còn sống với vợ con tại San Jose, California.
Có một bạn không được Thầy Phụng tuyển chọn là Huỳng Ngọc Thắng. Thắng là thằng bao sân ngoài, cầm đầu đám cổ động viên của học sinh PCT đi đánh đấm ngoài sân vận động Chi Lăng với đám “ Ruồi Xanh “ trường Kỹ Thuật. Nay ba người cầu thủ bóng đá nổi tiếng của lớp chúng ta đã ra đi vĩnh viễn. Tin Nguyễn Văn Hý chết vì tai nạn đã làm chấn động các bạn học cùng lớp PCT 66-73 và trong đó có Định. Định là một người có rất nhiều kỷ niệm với ba bạn đã chết của lớp chúng ta.
Lớp Đệ thất PCT chúng mình bắt đầu vào năm 1966, nhưng đến năm Đệ lục 1967 thì trong lớp mới có phong trào đá banh rất vui sau giờ học tại Sân vận động Chi Lăng. Định biết lúc đó những bạn cùng lớp đi về theo đường Thống Nhất kể cả “ Băng Cầu Vồng “ gồm Nguyễn Văn Hý và Nguyễn Văn Hùng ( anh em chú bác với Hý, ở quận Ba, phải theo đường Thống Nhất đến bến phà đường Bạch Đằng để về bên kia sông thuộc Quận Ba ), Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Công Dược, Dũng Móm, Dũng Thiến, Trần A. Đối, Lê Thôi và Hoà “ khùng “ ( Thôi và Hoà sau này chuyển qua học Kỹ Thuật năm Đệ Ngũ ). Có vài bạn như NT Mừng, NH Hùng và NC Dược thì thực sự ham vui nên đến sân Vận động Chi Lăng để chọc thiên hạ và nhìn các bạn khác đá banh. Phạm Ngọc Thanh thì học với Định từ trường Tiểu học Thạc Gián, cùng với Trần Vũ sau này là cầu thủ đá banh và HLV nổi tiếng ở Đà Nẵng. Năm 2014 ,Định gặp lại Thầy Trần Gia Phụng ở Sacramento, CA, thầy đến thuyết trình đề tài “ VN và Trận Đánh của Hải Quân VNCH ở đảo Hoàng Sa “ nhắc lại cái chết của PN Thanh và cả lớp đưa tiễn PN Thanh về quê mai táng, Thầy Phụng nhớ rất rõ.
Nguyễn Văn Tá là cầu thủ đá hàng tiền đạo, góc trái của đội bóng PCT. Nhớ đến NV Tá thì phải nhớ đến Ba của NV Tá. Năm 1973, khi hay tin Tá chết, không lấy được xác, băng PCT đến thăm và chia buồn với gia đình Tá, gặp Ba của Tá lúc đó rất tội nghiệp. Riêng Nguyễn Văn Hý thì có những kỷ niệm riêng. Hý và PN Thanh là người đề xướng gây quỹ để mua áo quần đá banh. Hý ăn nói rất chững chạc và hiền lành ( Hỷ chết mới biết Hỷ hơn tụi mình ba tuổi ), không bao giờ lớn tiếng với ai. Học lớp Đệ tam, thì thấy Hý ăn mặc rất đẹp, chững chạc và đô con. Ngoài chuyện đá banh, chắc chắn các bạn trong lớp đều nhớ NV Hý với thầy Nguyễn Nguyên, dạy Toán. Thầy gọi Hý lên bảng, giải toán. Hý giải không được. Thầy Nguyễn phạt Hý phải bò từ lớp ra quanh cột cờ và về lại lớp. Tuy không giỏi Toán, nhưng Hý vẫn đậu Tú tài I ban B, lên Đệ Nhất, Hý đổi qua ban A,, trước khi bị Tổng Động Viên năm 1972, Hý cùng các bạn cùng lớp sinh năm 1954 trở lên, phải trình diện vào sĩ quan Thủ Đức. Sau khi Hý vào quân trường Thủ Đức, cùng với Trần Hoa, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Phước Lâm, Trương Như Ty, Định không gặp lại cho đến năm 1977 , đi xem trận đá banh của đội tuyển Đà Nẵng, thì tình cờ gặp lại Hý, thời gian đó cuộc sống và xã hội đều đảo lộn, gặp lại Hý chỉ hỏi thăm qua về công việc làm, gia đình rồi chia tay.
Định rời quê hương năm 1981, chưa có dịp để biết tin tức và cuộc sống của NV Hý, cho đến thập niên 1990, nhớ Tôn Thất Hoà Bình liên lạc với Định, cho biết cuộc sống vất vả của gia đình Hý, cho biết Hý hàng ngày dùng chiếc xe đạp đi chở heo cho người ta để sinh sống, và kêu gọi các bạn học PCT 66-73 đóng góp để mua cho Hý một chiếc xe Honda Dame , làm phương tiện di chuyển cho dễ dàng hơn, vì sức khoẻ của Hý cũng yếu dần và cũng cho biết vợ Hý đang bị bịnh tim, chẳng giúp đỡ Hý trong việc làm ăn. Lúc đó Định có góp tiền cho TT Hoà Bình và Bình đã thực hiện như ý muốn. Sau khi Hý nhận được xe do Bình trao. Bình có gởi cho Định vài tấm hình Hý chụp với chiếc xe mà các bạn PCT 66-73 tặng. Trong hình Hý lúc đó, khác xa Hý thời trung học.
Năm 2004, lần đầu tiên Định về thăm quê hương VN. Biết Hý lúc nào cũng còn mặc cảm, Định phải nhờ TT Hoà Bình đích thân qua nhà Hý mời Hý đến dự buổi hội ngộ với bạn bè PCT 66-73, Định tổ chức ở một nhà hàng đối diện biển Thanh Bình. Vì rất thân với nhau thời trung học, nên Định và Hý có những tâm tình hơn. Một điều mà Hý ngạc nhiên là khi Định hỏi về Nguyễn Văn Hùng, anh em chú bác với Hý. Hý rất cảm động vì ít bạn học PCT nào nhắc lại NV Hùng. Hý chỉ trả lời là Hùng cũng bị động viên năm 72 , sau khi ra trường thì tình nguyện về Toán Lôi Hổ để nhảy ra Bắc ( giống như Navy Seal của USA- Đúng ra là Special force -ĐS ). Hý cho biết NV Hùng đã hy sinh vì tổ quốc năm 1974. Định lúc nào cũng nhớ đến hai thằng bạn thân bị động viên 72, nay cuộc sống vất vả là Nguyễn Văn Hý và Nguyễn Phước Lâm. NP Lâm là một thành viên của Băng Cầu Vồng. Năm Đê tam và Đệ nhị, Lâm thường đến nhà Định chơi nên Má Định biết Lâm. Năm 1991, Má Định qua Mỹ đoàn tụ với gia đình. Vì Lâm đi xe thồ và Má Định hay gặp chờ khách trước ga xe lửa, Má Định nói đôi lúc Má Định không đói, nhưng gặp Lâm , má Định cũng nhờ Lâm chở bà đi chợ, nhưng chở đến tiệm ăn thì mời Lâm vào ăn với Bác. Má Định có nói : “ Con nên giúp đỡ Lâm “.
Cuộc sống ở Mỹ lúc nào cũng bận rộn, nhưng đến trước Giáng Sinh 2014, hai vợ chồng có trao đổi với nhau về thời gian nào ý là khi nghỉ hưu sẽ giúp đỡ một số bà con nội, ngoại ở quê Quảng Bình còn khó khăn, cũng như sẽ giúp đỡ hai người bạn thân đang cực khổ ở quê nhà. Ai ngờ NV Hý chọn ngày ra đi để khỏi vất vả với cuộc sống. Như vậy Hý đã trả hết nợ đời, chỉ tội nghiệp cho vợ con Hý.
Thôi Hý đã ra đi thì cứ đi và yên tâm nhé. Chúc Bạn an giấc ngàn thu. Hý luôn sống với Định.
Viết vội cho Hý trong lúc giờ ăn trưa ngày 16 tháng 3 năm 2015. Tháng Ba cũng là tháng Đà Nẵng mất bốn mươi năm trước.
Nguyễn Quang Định
Davis - California , 2015
( ĐS kỷ niệm Đại hội PCT toàn thế giới kỳ thứ 3, 2015 )

(t-p: Ngô Phước An, Phan t Thu Liên,Phan Thanh Hoà,Phan t Thu Hà,Phạm t Quỳnh Chi)












[ p-t : - Võ Ý, Sư Tịnh Đức Tôn Thất Toản, Nguyễn Duy Diệm, Khưu t Diệu Hồng , (?), Phạm t Quỳnh Chi , Lâm Xuân Phong.
[ p-t : - Võ t Hồng Đoá ,Lê t Cử
( t-p : - Cô. Đặng thị Liệu, người thứ hai, Cô Lê Khắc Ngọc Quỳnh, người thứ ba, hàng ngồi.

( p-t : Phan t Thu Liên, Trịnh t Diệu Lan ,Pham t Quỳnh Chi, Phan t Thu Hà) 






Đà Nẵng 1958
Mộ phần Thầy Trần Đại Tăng (ĐN 16/8/2023 , ảnh của QPL)
HM PCT tại Toronto ngày 9 tháng 6 năm 2009

Thầy Tịnh Đức Tôn Thất Toản
& bạn hữu PCT ở gặp mặt trước HM PCT toàn thế giới kỳ 2 ( CA tháng 7/2012)

(- t-p : Ngô Phước An, Phan t Thu Liên, Võ t Hồng Đoá, Phan t Thu Hà,Huỳnh t Phú,Nguyễn diệu Liên Hương, Trịnh t Diệu Lan,Lâm Xuân Phong,Phạm t Quỳnh Chi,Lê t Cử,,(?), Bùi t Hồng Vân)
Gặp mặt của liên lớp PCT nk 1956-63 & thân hữu trước ngày HM PCT toàn thế giới kỳ 2 (tại CA tháng 7/2012 )


( 1938 - 22.9.2003 )









( Đà Nẵng 1958)





( t-p : Thầy Cung Thế Mỹ, Thầy Đặng Như Đức ,(?),(?),(?),(?),Thầy Lê Khắc Hoan và Thầy Trần Hữu Duận . “Kỷ yếu Hội ngộ PCT-HĐ, 2005 tại Hải ngoại “)




( p-t : - Thầy Nguyễn Văn Đáo, Thầy Trần Đại Tăng , Lê t Quý Phẩm, Phan t Thu Liên, Ngô t Kim Oanh )
( p-t : Thầy Trần Đại Tăng, Nguyễn Văn Tham, Lê t Quý Phẩm, Cao Ngọc Trãn, Phan t Thu Liên, Ngô t Kim Oanh,Châu t Yến Loan,Lê t Trang, Võ Văn Đức )
( p-t : - Nguyễn Thiếu Dũng, Võ Văn Thông, Bích , Nguyễn Văn Tham.
t-p: (?), Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đăng Ngọc , Thầy Hiệu trưởng Thái Doãn Ngà, Cô Đặng thị Liệu ,(?), Thầy Lê Quang Mai
[ t-p : - Võ Công, Trương Văn
Thương (đã mất), Huỳnh Phước Toàn ( đã mất) , Nguyễn diệu Liên Hương, Trần Nhật Ngân ( Nhạc sĩ Nhật Ngân,đã mất)
- Trần thị Ngọc Tuý, bà xã của Huỳnh Phước Toàn, chị Trần thị Ngọc Bích ( đã mất), bà xã của Trần Nhật Ngân. ]
Phan Châu Trinh, Đà Nẵng 1958

(“Trường Xưa 2”,kỷ yếu cựu học sinh PCT nk 1956-63 )
[ t-p : Thầy Tịnh Đức( đã mất ) Nguyễn hữu Lân ( đã mất), Thầy Khánh Hỷ, Trần Duyệt Tảo ( đã mất) , và Võ Văn Mại ]
( Anh Trần Ngọc Hội thuộc thế hệ PCT đầu tiên)
( t-p : - hàng trước : Xuân Hoa, Phạm t Yến, Đỗ Chi Viên.
Họp mặt ở Đà Nẵng 2013
(t-p :- đứng:(?), Đặng t Thành, Tôn Nữ Như Hảo, Ngô t Kim Oanh Phạm t Đàm, Lê t Trang
- ngồi : Nguyễn t Ái, Nguyễn văn Khánh, Kim Chi )
t-p : - ngồi : Lương Mậu Cường ( đã mất), Nguyễn Hoàng, Trần Anh Tiến.
- đứng : Chương, Phạm Quý Giao, Bửu Uyển,Nguyễn Phúc.
( Ảnh của NP )
( 1942 - Jan 13/ 2009 )
( Anh Trần Ngọc Hoàn thuộc thế hệ PCT đầu tiên)
Tại Fletcher Cove Beach Park, California, Sept 7, 2015.
Họp Mặt PCT toàn thế giới kỳ I tại California , tháng 7, 2009.( một ngày trước đại hội)
Thầy Tịnh Đức Tôn Thất Toản và bạn học cũ cùng lớp :
( p-t : - Phan Thanh Hoà
- Võ t Hồng Đoá, Bùi thị Hồng Vân, Lê t Cử, Phan t Thu Liên, Thầy Tịnh Đức, Phạm t Quỳnh Chi, Phan t Thu Hà )
Họp Mặt Phan Châu Trinh toàn thế giới kỳ I Tháng 7 năm 2009 tại California.
Cô Nguyễn Thị Hoàng Oanh & học trò cũ
(t-p : Phan t Thu Liên, Tạ Minh Nguyệt, Cô Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Nguyễn diệu Liên Hương, Phan t Thu Hà , chị Trương Thị Phi Ánh, thân hữu )
Họp Mặt ở Đà Nẵng ( 1989 )

( P-T : - Ba Mẹ của Huỳnh thị Thương
- Điềm, Huỳnh t Thương, Nguyễn t Thêm , Lê t Quý Phẩm, Thầy Trần Đại Tăng, Châu t Yến Loan,Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Văn Tham, Bích.
- Nguyễn Thiếu Dũng, Cao Ngọc Trãn )
Họp Mặt PCT Ngày 4 tháng 2 năm 2018 tại California.
Cô Nguyễn Thị Hoàng Oanh (đã mất ) và học trò cũ.
(t-p : Cô Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Hồng Đoá , Bích Đào và Phan Thanh Hoà )
PCT Đà Nẵng, năm 1958
t-p : - Cô Đặng thị Liệu ( đã mất), Cô Lê khắc Ngọc Quỳnh
- Cô Chín (Bà Trần đình Chín,đã mất ), Cô An Hà Châu( t-p : Võ Thiệu, Đào Bạch Thạch, Huỳnh t Phú, Phan t Thu Hà, (?), Võ t Hồng Đoá,Ngô Phước An, Phan t Thu Liên, Đinh t Kim An )
Thầy Trần Đại Tăng (1937 - 06/08/2015 )
( Thầy Trần Đại Tăng,Đà Nẵng, ngày 24 tháng 10, 2005 )
Cô Nguyễn thị Hoàng Oanh ( 1937-1/1/2024 )
Cô Hoàng Oanh , ngày Họp Mặt Phan Châu Trinh toàn thế giới kỳ I tại California, tháng 7/2009)
t- p : Đỗ Anh Tiến , Lương Mậu Cường ( đã mất ), Bùi t Hồng Vân, Nguyễn Phúc ( ảnh của PN )
Thầy Nguyễn Bá Việt ( Sài Gòn, tháng 5, 2001 )
Đà Nẵng , năm 1961
Trần thị Ngọc Trai -Trần thị Ngọc Tuý , Trần thị Ngọc Bích
Bãi biển Nha Trang, Hè 1961 Ngọc Tuý ,Ngọc Bích ,Ngọc Trai
(Hai chị Ngọc Trai & Ngọc Bích : thế hệ PCT đầu tiên. Ngọc Tuý : thuộc PCT nk 1956-1963)
Họp Mặt của cựu học sinh Phan Châu Trinh & Hồng Đức tại Toronto, ngày 27 tháng 7, 2008.
Cô Lê khắc Ngọc Quỳnh (ngồi chính giữa hàng thứ hai )
Họp Mặt của cựu học sinh Phan Châu Trinh & Hồng Đức tại Toronto, mùa Hè 2012 ( Ảnh của BVT )
Thầy, Cô Nguyễn Đăng Ngọc .
( Phía sau, t-p :Minh Nguyệt Bích Đào, Quỳnh Chi,Liên Hương,Diệu Lan ; ảnh của PQC)

Họp Mặt Kỷ niệm 50 năm thành lập trường Trung Học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, tháng 11,2002 tại California.( t-p : Nguyễn Ngọc Ái, Huỳnh t Phú, Phan t Thu Hà, Nguyễn diệu Liên Hương, Phan t Thu Liên, Võ t Hồng Đoá, Trịnh t Diệu Lan, Nguyễn Tuấn.
Sư Tịnh Đức Tôn Thất Toản, Ngô Phước An .)

( t-p : - hàng đứng : Phan văn Gà ,(?),(?),(?), thầy Đặng Như Đức , thầy Nguyễn Thanh Trầm, (?), (?), Kim Dung, Nguyễn Tuấn
- hàng ngồi : Lê t Bạch Nga, Ngô t Phước Hạnh, (?), Nguyễn diệu Liên Hương, Võ t Hồng Đoá.)
( Ảnh trong “ Trường Xưa 2, năm 2017, Kỷ yếu cựu học sinh PCT Đà Nẵng, nk 1956 - 1963 )
Ảnh 1 : t-p :Trần thị Ngọc Tuý, Lê thị Ngọc Lâm
Ngày Đệ Lục Phan Châu Trinh, niên khoá 1957 - 1958

t-p :Nguyễn diệu Liên Hương, Trần thị Ngọc Tuý,.Lê thị Ngọc Lâm ( phía trước )
Trần thị Ngọc Bích ( 1939 - 2023 )
chị Ngọc Bích, thuộc thế hệ PCT đầu tiên
Họp mặt tất niên tháng 1/1964 Đệ nhất A ( PCT 1963-64 )
T-P: Hàng trước : Trần t Nga, Châu t Yến Loan, Võ t Hồng Đoá, Nguyễn t Em, Nghiêm t Kim Ngân, Tôn nữ Như Hảo, Đào t Thái, Huỳnh t Phú
Hàng sau: Phan t Thu Liên, Hồ t Minh Châu, Phan t Thu Hà, Nguyễn t Ái, Đặng t Thành, Lưu t Lựu
* Ngô tất Thẩm và Nguyễn Quang Trung ( người cầm mặt nạ con cọp )
1/ t-p : Thầy Tịnh Đức Tôn Thất Toản và bằng hữu.
- hàng đứng sau : Phạm t Quỳnh Chi, Võ t Hồng Đoá, Phan t Thu Liên, Huỳnh t Phú, Phan Thanh Hoà, Phan t Thu Hà.
2 / - Trịnh t Diệu Lan, Bùi t Hồng Vân , Lê t Cử, Huỳnh t Phú, Võ t Hồng Đoá, Phạm t Quỳnh Chi
- Phan t Thu Liên, Nguyễn diệu Liên Hương, Phan t Thu Hà.
Họp Mặt các trường Trung Học Đà Nẵng tại California ( July 4th 2001 )
1/ Thầy cựu Hiệu trưởng PCT Nguyễn Đăng Ngọc và học trò cũ t-p : Ngô t Phước Khánh, Phạm t Quỳnh Chi, Lê văn Cần.
2/ Cô Phạm Bội Hoàn, thầy Trần Hữu Duận, cô Nguyễn thị Hoàng Oanh, cô An Hà Châu , Phạm t Quỳnh Chi, (?).
3/ t-p : Lâm Xuân Phong, Nguyễn t Xê, Trịnh t Diệu Lan, Phạm t Quỳnh Chi, Nhạc sĩ Trần Nhật Ngân, Sư Tịnh Đức Tôn Thất Toản.
Họp Mặt Trung Học Đà Nẵng tại California ( July 4th 2001)Cô Phan Mộng Hoàn ( hàng đầu từ phía trái )
Họp Mặt tại Đà Nẵng ngày 11 tháng 8, 2002 .
t-p :- Hàng ngồi :Huỳnh t Thương, thầy Trần Đại Tăng, Cao Ngọc Trãn, (?)
- hàng đứng :Nguyễn Văn Tuyến, Ngô thế Phiệt, Mai Gia Kim Tri, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tham, Võ Hoà , Bích
Họp Mặt bằng hữu cũ ( Đà Nẵng năm 2000 ; ảnh của Cttn PH )
t-p :- hàng ngồi : Thái, Phạm t Tuyết Nhung, Công tằng Tôn Nữ Phương Huệ
- hàng đứng :(?), Lộc, Phụng Hồng , Lê t Hỷ, Hoàng t Vụ, …..(?)
Trường PCT, tháng 10,2005
Họp Mặt của cựu học sinh PCT liên lớp 1967 -1974 ,( năm 2000 tại ĐN ) có được sự hiện diện của các Giáo sư cũ :
Các Thầy Lê Long Viên, Hà Công Bê ,Trần Đại Tăng , Hoàng Bích Sơn, Trần Trọng Huấn, Lâm Sĩ Liêm và hiền thê .
( Ảnh của Nguyễn Thế Hùng, Toronto ( cựu học sinh lớp 12B4, PCT 1973-74)

3/ trong sân trường xưa
Ảnh 2 : T-P : Châu t Yến Loan , Nguyễn t Ái ( Thuỳ An ) , Lưu t Lựu, Võ t Hồng Đoá,Đào t Thái ( Kim Hài ), Nguyễn t Em, Đặng t Thành (Đan Thanh ), Huỳnh t Phú, Nghiêm t Kim Ngân, Tôn Nữ Như Hảo, Trần t Nga.
Ảnh 3 : T-P : Hồ t Minh Châu, Phan t Thu Hà,Tôn Nữ Như Hảo, Phan t Thu Liên, Nghiêm t Kim Ngân, Nguyễn t Em, Võ t Hồng Đoá, Trần t Nga .
Đại Hội Toàn Thế Giới Kỳ V, California 9 tháng 7 năm 2023
Cựu học sinh Phan Châu Trinh đồng hát bài “Hiệu Đoàn Ca Phan Châu Trinh.” (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ban tổ chức tặng hoa cho các cựu giáo sư Phan Châu Trinh. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông Võ Văn Thiệu (trái) và ông Phan Ứng Thời. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông Trương Công Lập (trái) và ông Huỳnh Tuấn. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

1 / Lớp 10B1 PCT, niên khoá 1973-74
2/ Cô Phan Mộng Hoàn và học sinh 8B3 , 15 năm sau gặp lại năm 1986
( sau lưng Cô MH là Sơn Lai,Sơn Lồi,Ngọc Toàn…
cạnh Cô là Ng.Thế Dung, Trần Công Đức, Lê Công Tâm )



Họp Mặt Liên Trường Đà Nẳng - 2019

Thầy Hiệu trưởng Ngô Văn Chương và nữ sinh Đệ Nhị A PCT ( nk 1962-63 ) , tại trại Hè toàn trường cuối niên khoá 1962-63.






Just found from Archive



Nhóm bạn Đệ tứ 2 , nơi bờ sông Hàn, trước khi nghỉ Hè 1961 ̣( Ảnh của PTD )
Lớp Đệ tứ 2 (nk 1960-61 ) trước cổng trường PCT, ngày cuối năm học. (Ảnh của PNC )
Lý Tuyết Ánh , trong đêm Liên Hoan tất niên của trường Phan Châu Trinh, 1955
( Hình trong album kỷ niệm của hai chị Ngọc Trai & Ngọc Bích)
Lý Tuyết Ánh, Đà Nẵng 1955
Thanh Thảo, Đà Nẵng 29 tháng 5,1956
( Hình trong album kỷ niệm của hai chị Ngọc Trai & Ngọc Bích)
Thầy Trần Ngọc Quế (x) và lớp Đệ tứ 2, PCT ngày cuối niên khóa 1960-61
Lớp Đệ tứ 2 PCT niên khoá 1960-61, ngày cuối năm học.
Lớp Đệ ngũ PCT nk 1953-54
Trần thị Ngọc Trai lãnh phần thưởng Danh dự ,lớp Đệ lục
Trại Hè toàn trường PCT tại Lăng Cô, Hè 1958
Lễ Quốc Khánh 26-10-1960 Việt Nam Cọng Hoà
x : Cô Hoàng Mộng Liên và các nữ sinh hoá trang trên xe hoa PCT:
Trái sang phải :Hàng trước : Ngô Vương Hoàng ( người thứ ba)
Hàng sau :Nguyễn thị Phượng ( bà Triệu Ẩu )
Trần thị Hà ( bà Trưng Trắc )
Phạm thị Quỳnh Chi ( bà Trưng Nhị)
Nữ sinh PCT trong buổi diễn hành Lễ Hai Bà Trưng , ĐN 1956
Cô Vũ thị Kim Hường và các nữ sinh Đệ thất & Đệ lục PCT, Tết Giáp Ngọ 1954
Liên Hoan tất niên PCT, 1955
Thầy Bửu Thiếc & nữ sinh lớp Đệ tứ PCT du ngoạn Non Nước , ngày 17-2-1955
Trần thị Ngọc Trai (1937 - 2005)
Thầy Cao Huy Hoá và Lớp Đệ Nhất B, PCT niên khoá 1964-1965
Lớp Đệ Nhị B , PCT niên khoá 1966-1967
Lớp Đệ ngũ PCT niên khoá 1953-1954
Ngọc Túy, Bãi biển Nha Trang, ngày về 1965
Ngọc Túy, Saigon 1965
Vườn bách thảo Sài Gòn , 1965 ( hàng ngồi : hai cḥị Ngọc Trai và Ngọc Bích, thuộc thế hệ̣ PCT đầu tiên )
Ngọc Túy, New South Wales / Australia
Chiều thứ bảy, nơi cổng trường Phan Châu Trinh , mùa Hè 1963. ( Ảnh của KQN )
Trại Hè PCT năm 1963
Từ trái qua phải:
Minh Châu, Thu Thảo,Kim Quy,Minh Mận, Cô Kim Thành, (?) ( Ảnh của KQN )
Đệ tứ 2 , PCT nk 1960-1961.Ngày cuối năm học, nơi bờ sông Hàn ,1961 ( Ảnh của PNC )
Từ trái qua phải :
Hàng 1 :
Phan Văn Chín, Phạm Ngọc Chấn,Nguyễn ( hay Trần ? ) Xuân Quang, Nguyễn Văn Quảng, Phan thị Thu Liên, Phan thị Thu Hà, Phạm thị Duyệt, Nguyễn thị Lạc Giao, Hoàng Thu Hồng,Nguyễn Đăng Khoa, Đỗ Ngọc Lệ, Khương Đại Lượng, Đinh Văn Thìn.
Hàng 2 :
Trần Bích Ngang ,Đặng Kim Hùng,Mai Văn Đính ,Huỳnh Sáo
Hàng 3 :
Lê Đình Hải, Mai Xuân Lương, Lê Khả Trính, Nguyễn Thiếu Ưng, Trần Đình Thắng, Huỳnh Lô, Trần Thiệt, (?), Cao Ngọc Trãn

Dệ Nhất A PCT 1963 - 1964
Lớp học đầu tiên của trường Trung học Phan Châu Trinh (1952-1954) tại trường Nam tiểu học Đà Nẵng


PCT 1957-64

PCT 1957-64 - Bãi biển Tiên Sa 64

Đệ Tứ PCT năm 1955

Một cựu PCT 1954-60 ??
Phạm Ngọc Chấn, 1961 (PCT 1957-1964)


Đội bóng rổ và bóng tròn Đệ nhị C, NK 61-62



Đệ tứ 2 ( nk 1960-61) Lần du ngoạn Mỹ Khê 10/1960
Hàng đứng :( từ trái qua phải ) Mai Văn Độ, Huỳnh Mai Tính,Huỳnh Sáo, Trần Bích Ngang (?), Trần Đình Thắng, Trần Khánh Dũng, Thầy Nghĩa , Lê Khả Trính ,Tôn Thất Toản, Cao Ngọc Trãn ( đứng phía sau) Nguyễn Thiếu Ưng ( đội mũ trắng), Đỗ Ngọc Lệ, Lê Văn Chơn, Võ Văn Mại ( đội nón ) , ( ?), Nguyễn Văn Quảng (đội nón ).
Hàng ngồi : ( trái qua phải ) - 5 người ngồi hàng phía sau : Trần Minh Tài ,Đinh Văn Thìn, Mai Xuân Lương, Huỳnh Lô ,Trần (hay Nguyễn ?) Xuân Quang
Hàng ngồi phía trước : Trần Minh Xuyên, Khương Đại Lượng, Phạm Ngọc Chấn, Từ Văn Xin, Lê Tự Rô, Nguyễn Thị Thêm, Phạm thị Quỳnh Chi, Châu thị Yến Loan, Nguyễn Thị Bích Lan, Nguyễn thị Ái, Lê Thị Trang, Phan Thị Thu Hà, Hoàng Thu Hồng, Phạm Thị Duyệt, Phan Thị Thu Liên .

Hình chụp lại trong ĐS 57-64.
Cao Ngọc Trản, bác sĩ mất vì bệnh; Lê Khả Trính, VB Đà Lạt, BĐ Quân, tử trận; Trần Văn Hội, tử trận ;
Trương Công Tránh bị VC tử hình sau 75 vì tham gia trong lực lượng Phục quốc ở Nam Yên (vùng Bà Nà núi Chúa).


Hồi nhỏ, tại Đà Nẵng, nhà tôi ở trên đường Đống Đa, gần Trại nhập ngũ và đường Thanh Bình, lối ra trường Kỹ Thuật. Đối diện với nhà tôi là đồn Quân Cảnh, phía trước là đường rầy xe lửa nên có một khoảng đất trống tương đối khá rộng rãi cho bọn trẻ con cùng xóm chơi đùa. Đám con trai chúng tôi thì chơi “ tạc lon “, “ bắn bi “, “ táng tiền “, chia đội đá banh...Các bạn gái thì chơi nhảy dây, ú tim , đánh thẻ. Ngoài ra, chúng tôi còn tự chế những trò chơi khác và rủ nhau chơi đùa vui vẻ thỏa thích. Hồi nhỏ, tôi cũng như hầu hết các bạn làm gì có trò chơi điện tử như con cháu chúng ta bây giờ. Ở Mỹ, đúng là thiên đường của trẻ con.
Riêng tôi, nhớ lại kỷ niệm những ngày còn bé, tôi lại cho đó là thiên đường của tôi. Lúc đó trong khi chơi đùa, đứa nào trong chúng tôi cũng muốn giành phần thắng về mình. Đứa nào được thì vui vẻ hả hê, đứa thua thì tức giận rồi thôi, hết giận lại chơi tiếp. Thử hỏi đó không phải là thiên đường của tuổi trẻ hay sao ?
Lúc ấy tôi mới lên 8. Trong đám bọn con trai, vì tôi là đứa ham chơi, nên thường rủ rê và đứng đầu nhóm về bày trò chơi. Một hôm tôi rủ Trãi, ở cách nhà tôi hai căn, chơi bắn bi. Chơi thì phải có thắng có thua phải không các bạn ? Vậy mà sau khi chơi xong, Trãi thua tôi gần hết mấy hòn bi mà bạn ấy quý mến, đâm ra giận tôi và rủ “ đánh nhau “. Thế là cả bọn đồng thanh a dua “ đánh “.
“ Oánh “ lúc đó thật là ồn ào, náo loạn. Tôi ốm yếu và nhỏ con hơn, mà lại không được học một môn võ nào, nên tôi đánh không lại Trãi. May sao lúc đó có anh Diên can ra nên tôi không bị đòn nhiều. Về nhà, tôi giận Trãi lắm, quyết từ nay sẽ không bao giờ thèm rủ nó chơi chung nữa.
Nói giận thì giận, nhưng chỉ một tuần sau chia phe đá banh, tôi lại tủ Trãi nhập bọn cùng chung đội với tôi vì thiếu người. Đội chúng tôi thắng trận đó. Sau khi trận banh kết thúc, Trãi cho tôi biết là nó sắp dọn nhà đi nơi khác. Nhờ bố Trãi được thăng cấp Thiếu tá nên gia đình Trãi dọn lên ở cư xá sĩ quan. Khi lên trung học, tôi vào trường Phan Châu Trinh, còn Trãi vào trường Pascal. Kể từ đó, chúng tôi không còn liên lạc với nhau nữa.
Tôi vào học trường Phan Châu Trinh năm 1968. Lớp tôi do bạn Nguyễn Văn Thanh làm trưởng lớp. Lê Quang Thiện đá banh giỏi nên làm trưởng ban thể thao, còn trưởng ban báo chí do Nguyễn Văn Ba phụ trách. Tôi còn có các bạn Nguyễn Thế Hưng, Trần Hưng Thành, Hồ Văn Kỳ Thường và nhiều bạn khác nữa, nhưng đã 30 năm xa cách nên tôi không nhớ hết được. Có thể trưởng lớp Nguyễn Văn Thanh nhớ nhiều hơn tôi.
Lúc ấy, tôi rất ham chơi bóng rổ, nhưng Ba tôi muốn tôi hoàn toàn tập trung thời giờ vào việc học, nên tôi phải nghĩ cách làm thế nào để được chơi bóng rổ sau giờ học. Cuối cùng, tôi nghĩ ra được cách làm Trưởng ban học tập của lớp. Làm trưởng ban gì , chứ cái trưởng ban này là Ba tôi đồng ý ngay. Từ đó, tôi có cơ hội đi đánh bóng rổ với Huỳnh Bá Long, Lê Mùi và những bạn khác lớp. Khi đấu, có lúc thắng, lúc thua, nên thỉnh thoảng chúng tôi cũng “ uýnh lộn “ , nhưng rồi huề, và tiếp tục chia phe đấu tiếp.
Nói về vấn đề học tập, có lẽ nhóm chúng tôi cùng chung một ý tưởng giống nhau : đó là đứa nào đứa nấy đều lấy cớ đi học nhóm để được gặp gỡ nhau thì đúng hơn, trong số ấy gồm có Ngô Đức Hải, Ngô Quốc Long, Trần Hưng Thành, Trần Đại Khánh Ngọc và tôi. Nói là nói vậy thôi, chứ đã là trưởng ban học tập, dầu có ham chơi cách mấy, tôi cũng phải có trách nhiệm vận động anh em học hành, trao đổi bài vở và giúp đỡ lẫn nhau những gì mình không hiểu để hoàn tất bài vở.
Xong đệ nhất cấp, Hải, Quốc Long, Bá Long và tôi tiếp tục học chung lớp 10B4. Năm này nhằm vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tụi tôi bốn đứa rơi vào tuổi đôn quân của chính phủ, nên chúng tôi rủ nhau học thêm lớp 11 ban đêm trường Phan Châu Trinh. Chúng tôi phải học trối chết để dự thi Tú Tài 1. May sao, cuối năm đó, chúng tôi thi đậu, chỉ một mình Huỳnh Bá Long không may thi rớt. Long đăng vào binh chủng Không Quân, cấp bậc Trung sĩ.
Đậu xong Tú Tài 1, chúng tôi rủ nhau ghi danh học trường Phan Thanh Giản. Lúc đó, tôi đã lớn rồi, cần thêm tiền tiêu vặt. Trong khi gia đình tôi lại không khá giả cho lắm. Nhiều khi thiếu tiền mua sách, tôi cũng không dám mở miệng xin gia đình, huống gì là tiêu vặt. May thay, thầy Hoàng Ngân Hà lúc ấy dạy Anh Văn, thấy tôi có khiếu môn này, tưởng đâu môn gì tôi cũng giỏi, nên đã giới thiệu hai người cháu vủa Thầy cho tôi dạy kèm.
Nhờ vậy tôi mới có chút đỉnh tiền xài vặt. Học xong lớp 12 và thi đậu được bằng Tú Tài 2 , Ba tôi định cho tôi ra học Đại học Huế vì sợ tôi vào Sài Gòn chốn đô thị có nhiều chỗ ăn chơi. Với bản tính của tôi lúc ấy, chắc sẽ không tốt nghiệp được Đại Học, một phần lại sợ tốn kém hơn là học ở Huế.
May sao năm ấy anh tôi được bổ nhiệm vào trung tâm Điện Toán ở Phủ Thủ Tướng, nên anh bỏ ý định về dạy học tại Đà Nẵng. Nhờ anh tôi vào làm việc tại Sài Gòn , nên tôi mới được vào học ở đây. Trước khi đi, tôi có ghé thăm thầy Hà và được thầy viết thư giới thiệu đến nhà dạy kèm cho hai cô cháu gái , con người chị của thầy. Nhờ vậy mà ba tôi bớt lo đi một phần tài chánh cho việc học của tôi. Lại một lần nữa mang ơn Thầy, em xin cám ơn Thầy.
Tôi ghi danh vào trường Đại học Phú Thọ, nhưng không phải là một học sinh xuất sắc lúc bấy giờ nên tôi thi rớt. Cuối cùng, tôi phải vào Vạn Hạnh và gặp lại Hải cùng Ngô Quốc Long cũng vào học ở đây. Một hôm tình cờ đang ngồi ăn ở Câu Lạc Bộ sinh viên Vạn Hạnh, thì tôi gặp lại được Trãi ở cùng xóm, cùng chơi bắn bi đá banh với tôi hồi nhỏ. Thấm thoắt vậy mà đã 10 năm hai đứa không gặp lại nhau.
Lúc này thì bọn tôi đã quên hết cái chuyện giận hờn, “ uýnh nhay “ thuở bé, và vô cùng mừng rỡ tay bắt, mặt mừng, rủ nhau đi uống café. Chúng tôi tán gẩu chuyện hồi xưa còn bé ở cùng xóm, ôi thôi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Trãi hỏi thăm tôi liên miên về đứa này, đứa nọ hồi xưa ở cùng trên đường Đống Đa Đà Nẵng. Tôi đã kể từng đứa một cho Trãi nghe và sau đó chúng tôi đã trở thành hai đứa bạn thân thiết nhất.
Học xong năm thứ nhất Phân khoa Giáo Dục Vạn Hạnh 1974, thì chính phủ lại ra thông cáo gia hạn thêm một tuổi cho sinh viên. Hải nhân dịp này ghi danh và đậu vài trường Kiến Trúc, còn tôi thì thi đậu được vào Kỹ sư Công Chánh, nên tôi và Hải bắt đầu lại năm thứ nhất của cái ngành mà chúng tôi ưa thích. Riêng Long và Trãi thì học tiếp lên năm thứ hai ở Đại Học Vạn Hạnh.
Đang học nửa chừng thì tình hình chính trị miền Nam Việt Nam xảy ra xáo trộn liên tiếp. Cọng Sản đánh chiếm Ban Mê Thuột. Đồng bào miền Trung tản cư vào cuối tháng ba năm 1975. Đà Nẵng thất thủ vào cuối tháng 3. Ba Má và hai đứa em gái tôi còn kẹt lại Đà Nẵng. Kể từ đó tôi hoàn toàn mất liên lạc với gia đình ngoài Trung.
Ở Sài Gòn không biết bao nhiêu chuyện lộn xộn xảy ra. Trãi đến tìm tôi và cho biết là bố Trãi có ý định mua tàu dầu ở Vũng Tàu cho gia đình di tản. Trãi rủ tôi cùng đi chung . Lòng tôi phân vân không biết phải làm sao ?
Trong lúc ấy, hỏi ý kiến ông anh có muốn tìm đường ra đi hay không, ông lại nói là có thể trung lập, chắc không sao đâu. Chị tôi đang học năm cuối ở trường Dược, nên bằng mọi cách phải lo học để thi ra trường. Anh và chị tôi nói nếu tôi muốn đi theo Trãi thì cứ đi.
Lúc đó, trước ngõ căn gác trọ tôi đang ở trong hẽm đường Hoàng Diệu, ba, bốn hôm liên tiếp đều có xe Bus đến đón gia đình những người làm việc cho các cơ quan Mỹ vào phi trường để ra đi. Hơn nữa, nhờ theo dõi tin tức và nghe ngóng tin tức café vỉa hè, tôi tin chắc thế nào Mỹ cũng bỏ rơi Việt nam, nên tôi quyết định ra đi. Tôi còn muốn rủ mấy đứa bạn thân như Quốc Long, Đức Hải đi chung, nhưng nhờ Trãi thì ngại, nên tôi nảy sinh ý định rủ tất cả anh em tìm đường ra Phú Quốc để đi, nhưng không ai chịu cả. Gia đình đứa nào cũng còn kẹt ở Đà Nẵng nữa, nên tất cả từ chối. Thế là tôi đành đi theo Trãi ra Vũng Tàu.
Trước khi đi, anh tôi cho $10.000.00 đồng tiền Việt lúc bấy giờ, chị tôi cho thêm $5.000.00 nữa. Trãi và tôi lên xe đò ra Vũng Tàu. Hôm ấy khoảng 24-4-1975 . Ra đến nơi kiếm tàu của gia đình Trãi không thấy đâu cả, chúng tôi đành ở lại nhà mát của ông Bác Trãi (nhà Bố của ca sĩ Việt Dũng). Ở đây được ba hôm thì chúng tôi thấy xuồng của Hải quân vào đón thân nhân của mấy tàu lớn đang đậu ngoài khơi. Lúc ấy tình hình khá lộn xộn , nên chúng tôi cứ nhảy đại lên tàu và được đưa ra tàu lớn đậu sẵn ngoài khơi. May quá lên được tàu lớn rồi thì chúng tôi mới yên lòng.
Từ đó tôi nghĩ là ra đi sẽ không bao giờ có ngày trở lại, không còn cơ hội để gặp lại gia đình thân nhân bạn bè nữa. Ấy thế mà không hiểu tại sao lúc ấy ý chí ra đi của tôi lại mãnh liệt như thế, quên hết tất cả, chỉ biết đi thế thôi, đúng là người con bất hiếu ! ???. Lúc ấy tôi muốn khóc xin Ba Má thứ lỗi cho đứa con bất hiếu này, từ nay ra đi không bao giờ có ngày gặp lại. Lòng tôi quặn đau, nhưng sao vẫn không rơi được một giọt lệ nào , đành câm nín đau khổ cho cái số phận cô đơn của tôi vào lúc ấy. Chiến hạm Hải Quân Công Xưởng 802 đưa chúng tôi sang Summit Bay ở Phi Luật Tân. Chúng tôi được đưa tiếp sang Guam rồi đến trại Fort Chaffee ở Arkansas và cuối cùng thì tôi được người quen bảo trợ ( sponsor ) sang Cali, nơi mà có lẽ thời gian tôi sinh sống còn lâu hơn là ở Đà Nẵng.
Tôi xem đây là quê hương thứ hai của tôi, nhưng cứ mỗi khi nhớ lại những ngày còn chơi chung với đám bạn ở đường Đống Đa Đà Nẵng, là lòng tôi thấy khắc khoải nhớ nhung đến cái thiên đường hồi bé của tôi. Mới thấy là không có nơi nào đẹp bằng Quê Hương mình đã ỡ, và lớn lên, dù nơi đó đã phải trải qua một cuộc chiến quá đau thương vào lúc bấy giờ.
Chuongcom Cali ( 10-21-2002 )
Bài này xin riêng tặng Nguyễn Ngọc Trãi và các bạn trường Phan Châu Trinh niên khóa 1968-1974.
(“ĐS Kỷ Niệm 50 năm thành lập trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, 29 tháng 11 năm 2002 “ )

Cho tôi xin một sớm bình yên
Nằm dưới cội tùng nghe lời chim hót
Nghe từng giọt sương rơi thảnh thót
Trên từng lá xanh trên mỗi đài hoa
Nhìn mặt trời hồng chân mây xa
Đuổi tiếng côn trùng chìm vào giấc ngủ
Nhìn từng lộc non nẩy mầm hé nụ
Gió ban mai thổi ngọn cỏ rì rào
Mây rất xanh trên bầu trời cao
Hồn mênh mông vô cùng vô tận
Bao cay đắng muộn phiền hờn giận
Bao lo toan tan biến hư vô
Rất đổi ngọt ngào rất đổi trẻ thơ
Lòng tươi sáng một vầng nguyệt bạch
Nhẹ như nõn, mềm như tơ, trong như ngọc
Rất hồn nhiên thuở tuổi lên mười
Trong không gian văng vẳng tiếng cười
Ríu rít yêu thương, dịu dàng hoa mộng
Đầu gối cỏ nhìn đất trời chuyển động
Thời gian bâng khuâng non nước nhiệm mầu
Hồn ngất ngây như nụ hôn đầu.
Trần Hoan Trinh
( “ Tiếng Chim Ngoài Cửa Lớp “, Đà Nẵng 2002 )

Mình về giũ áo mưa bay
Bỗng dưng nước mắt ngang mày lạ chưa
Phải mùa thu cũ đong đưa
Phải tình yêu cũ bây giờ hồi sinh
Nghe lòng như sóng lênh đênh
Nghe hồn như biển âm thầm gọi sông
Phải mình đã phụ nhau không
Mà mười năm đó bềnh bồng hai nơi
Em về xoã tóc trêu ngươi
Tôi khăn gói rủ mây trời lang thang
Ngỡ quên đi chuyện bèo tan
Chợt chiều nay lại bàng hoàng ngẩn ngơ
Mai về phố cũ trường xưa
Đền em năm tháng đợi chờ đã qua
Mai về mặc áo thêu hoa
Đền em tất cả trời xa trời gần
Thôi đành xóa hết phong trần
Ngắm hoa rơi rụng trắng sân miệt mài
Tóc mai sợi ngắn sợi dài
Mai về phấn điểm hương cài cho nhau
Trăm năm nước chảy qua cầu
Mai về cởi áo cho nhau cuộc đời

Trần Hoan Trinh
( “ Bỏ Trường Mà Đi “ thơ Trần Hoan Trinh, Trò Xưa xuất bản tại Hoa Kỳ, 2002 )