
We have 528 guests and no members online

Hồi nhỏ, tại Đà Nẵng, nhà tôi ở trên đường Đống Đa, gần Trại nhập ngũ và đường Thanh Bình, lối ra trường Kỹ Thuật. Đối diện với nhà tôi là đồn Quân Cảnh, phía trước là đường rầy xe lửa nên có một khoảng đất trống tương đối khá rộng rãi cho bọn trẻ con cùng xóm chơi đùa. Đám con trai chúng tôi thì chơi “ tạc lon “, “ bắn bi “, “ táng tiền “, chia đội đá banh...Các bạn gái thì chơi nhảy dây, ú tim , đánh thẻ. Ngoài ra, chúng tôi còn tự chế những trò chơi khác và rủ nhau chơi đùa vui vẻ thỏa thích. Hồi nhỏ, tôi cũng như hầu hết các bạn làm gì có trò chơi điện tử như con cháu chúng ta bây giờ. Ở Mỹ, đúng là thiên đường của trẻ con.
Riêng tôi, nhớ lại kỷ niệm những ngày còn bé, tôi lại cho đó là thiên đường của tôi. Lúc đó trong khi chơi đùa, đứa nào trong chúng tôi cũng muốn giành phần thắng về mình. Đứa nào được thì vui vẻ hả hê, đứa thua thì tức giận rồi thôi, hết giận lại chơi tiếp. Thử hỏi đó không phải là thiên đường của tuổi trẻ hay sao ?
Lúc ấy tôi mới lên 8. Trong đám bọn con trai, vì tôi là đứa ham chơi, nên thường rủ rê và đứng đầu nhóm về bày trò chơi. Một hôm tôi rủ Trãi, ở cách nhà tôi hai căn, chơi bắn bi. Chơi thì phải có thắng có thua phải không các bạn ? Vậy mà sau khi chơi xong, Trãi thua tôi gần hết mấy hòn bi mà bạn ấy quý mến, đâm ra giận tôi và rủ “ đánh nhau “. Thế là cả bọn đồng thanh a dua “ đánh “.
“ Oánh “ lúc đó thật là ồn ào, náo loạn. Tôi ốm yếu và nhỏ con hơn, mà lại không được học một môn võ nào, nên tôi đánh không lại Trãi. May sao lúc đó có anh Diên can ra nên tôi không bị đòn nhiều. Về nhà, tôi giận Trãi lắm, quyết từ nay sẽ không bao giờ thèm rủ nó chơi chung nữa.
Nói giận thì giận, nhưng chỉ một tuần sau chia phe đá banh, tôi lại tủ Trãi nhập bọn cùng chung đội với tôi vì thiếu người. Đội chúng tôi thắng trận đó. Sau khi trận banh kết thúc, Trãi cho tôi biết là nó sắp dọn nhà đi nơi khác. Nhờ bố Trãi được thăng cấp Thiếu tá nên gia đình Trãi dọn lên ở cư xá sĩ quan. Khi lên trung học, tôi vào trường Phan Châu Trinh, còn Trãi vào trường Pascal. Kể từ đó, chúng tôi không còn liên lạc với nhau nữa.
Tôi vào học trường Phan Châu Trinh năm 1968. Lớp tôi do bạn Nguyễn Văn Thanh làm trưởng lớp. Lê Quang Thiện đá banh giỏi nên làm trưởng ban thể thao, còn trưởng ban báo chí do Nguyễn Văn Ba phụ trách. Tôi còn có các bạn Nguyễn Thế Hưng, Trần Hưng Thành, Hồ Văn Kỳ Thường và nhiều bạn khác nữa, nhưng đã 30 năm xa cách nên tôi không nhớ hết được. Có thể trưởng lớp Nguyễn Văn Thanh nhớ nhiều hơn tôi.
Lúc ấy, tôi rất ham chơi bóng rổ, nhưng Ba tôi muốn tôi hoàn toàn tập trung thời giờ vào việc học, nên tôi phải nghĩ cách làm thế nào để được chơi bóng rổ sau giờ học. Cuối cùng, tôi nghĩ ra được cách làm Trưởng ban học tập của lớp. Làm trưởng ban gì , chứ cái trưởng ban này là Ba tôi đồng ý ngay. Từ đó, tôi có cơ hội đi đánh bóng rổ với Huỳnh Bá Long, Lê Mùi và những bạn khác lớp. Khi đấu, có lúc thắng, lúc thua, nên thỉnh thoảng chúng tôi cũng “ uýnh lộn “ , nhưng rồi huề, và tiếp tục chia phe đấu tiếp.
Nói về vấn đề học tập, có lẽ nhóm chúng tôi cùng chung một ý tưởng giống nhau : đó là đứa nào đứa nấy đều lấy cớ đi học nhóm để được gặp gỡ nhau thì đúng hơn, trong số ấy gồm có Ngô Đức Hải, Ngô Quốc Long, Trần Hưng Thành, Trần Đại Khánh Ngọc và tôi. Nói là nói vậy thôi, chứ đã là trưởng ban học tập, dầu có ham chơi cách mấy, tôi cũng phải có trách nhiệm vận động anh em học hành, trao đổi bài vở và giúp đỡ lẫn nhau những gì mình không hiểu để hoàn tất bài vở.
Xong đệ nhất cấp, Hải, Quốc Long, Bá Long và tôi tiếp tục học chung lớp 10B4. Năm này nhằm vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tụi tôi bốn đứa rơi vào tuổi đôn quân của chính phủ, nên chúng tôi rủ nhau học thêm lớp 11 ban đêm trường Phan Châu Trinh. Chúng tôi phải học trối chết để dự thi Tú Tài 1. May sao, cuối năm đó, chúng tôi thi đậu, chỉ một mình Huỳnh Bá Long không may thi rớt. Long đăng vào binh chủng Không Quân, cấp bậc Trung sĩ.
Đậu xong Tú Tài 1, chúng tôi rủ nhau ghi danh học trường Phan Thanh Giản. Lúc đó, tôi đã lớn rồi, cần thêm tiền tiêu vặt. Trong khi gia đình tôi lại không khá giả cho lắm. Nhiều khi thiếu tiền mua sách, tôi cũng không dám mở miệng xin gia đình, huống gì là tiêu vặt. May thay, thầy Hoàng Ngân Hà lúc ấy dạy Anh Văn, thấy tôi có khiếu môn này, tưởng đâu môn gì tôi cũng giỏi, nên đã giới thiệu hai người cháu vủa Thầy cho tôi dạy kèm.
Nhờ vậy tôi mới có chút đỉnh tiền xài vặt. Học xong lớp 12 và thi đậu được bằng Tú Tài 2 , Ba tôi định cho tôi ra học Đại học Huế vì sợ tôi vào Sài Gòn chốn đô thị có nhiều chỗ ăn chơi. Với bản tính của tôi lúc ấy, chắc sẽ không tốt nghiệp được Đại Học, một phần lại sợ tốn kém hơn là học ở Huế.
May sao năm ấy anh tôi được bổ nhiệm vào trung tâm Điện Toán ở Phủ Thủ Tướng, nên anh bỏ ý định về dạy học tại Đà Nẵng. Nhờ anh tôi vào làm việc tại Sài Gòn , nên tôi mới được vào học ở đây. Trước khi đi, tôi có ghé thăm thầy Hà và được thầy viết thư giới thiệu đến nhà dạy kèm cho hai cô cháu gái , con người chị của thầy. Nhờ vậy mà ba tôi bớt lo đi một phần tài chánh cho việc học của tôi. Lại một lần nữa mang ơn Thầy, em xin cám ơn Thầy.
Tôi ghi danh vào trường Đại học Phú Thọ, nhưng không phải là một học sinh xuất sắc lúc bấy giờ nên tôi thi rớt. Cuối cùng, tôi phải vào Vạn Hạnh và gặp lại Hải cùng Ngô Quốc Long cũng vào học ở đây. Một hôm tình cờ đang ngồi ăn ở Câu Lạc Bộ sinh viên Vạn Hạnh, thì tôi gặp lại được Trãi ở cùng xóm, cùng chơi bắn bi đá banh với tôi hồi nhỏ. Thấm thoắt vậy mà đã 10 năm hai đứa không gặp lại nhau.
Lúc này thì bọn tôi đã quên hết cái chuyện giận hờn, “ uýnh nhay “ thuở bé, và vô cùng mừng rỡ tay bắt, mặt mừng, rủ nhau đi uống café. Chúng tôi tán gẩu chuyện hồi xưa còn bé ở cùng xóm, ôi thôi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Trãi hỏi thăm tôi liên miên về đứa này, đứa nọ hồi xưa ở cùng trên đường Đống Đa Đà Nẵng. Tôi đã kể từng đứa một cho Trãi nghe và sau đó chúng tôi đã trở thành hai đứa bạn thân thiết nhất.
Học xong năm thứ nhất Phân khoa Giáo Dục Vạn Hạnh 1974, thì chính phủ lại ra thông cáo gia hạn thêm một tuổi cho sinh viên. Hải nhân dịp này ghi danh và đậu vài trường Kiến Trúc, còn tôi thì thi đậu được vào Kỹ sư Công Chánh, nên tôi và Hải bắt đầu lại năm thứ nhất của cái ngành mà chúng tôi ưa thích. Riêng Long và Trãi thì học tiếp lên năm thứ hai ở Đại Học Vạn Hạnh.
Đang học nửa chừng thì tình hình chính trị miền Nam Việt Nam xảy ra xáo trộn liên tiếp. Cọng Sản đánh chiếm Ban Mê Thuột. Đồng bào miền Trung tản cư vào cuối tháng ba năm 1975. Đà Nẵng thất thủ vào cuối tháng 3. Ba Má và hai đứa em gái tôi còn kẹt lại Đà Nẵng. Kể từ đó tôi hoàn toàn mất liên lạc với gia đình ngoài Trung.
Ở Sài Gòn không biết bao nhiêu chuyện lộn xộn xảy ra. Trãi đến tìm tôi và cho biết là bố Trãi có ý định mua tàu dầu ở Vũng Tàu cho gia đình di tản. Trãi rủ tôi cùng đi chung . Lòng tôi phân vân không biết phải làm sao ?
Trong lúc ấy, hỏi ý kiến ông anh có muốn tìm đường ra đi hay không, ông lại nói là có thể trung lập, chắc không sao đâu. Chị tôi đang học năm cuối ở trường Dược, nên bằng mọi cách phải lo học để thi ra trường. Anh và chị tôi nói nếu tôi muốn đi theo Trãi thì cứ đi.
Lúc đó, trước ngõ căn gác trọ tôi đang ở trong hẽm đường Hoàng Diệu, ba, bốn hôm liên tiếp đều có xe Bus đến đón gia đình những người làm việc cho các cơ quan Mỹ vào phi trường để ra đi. Hơn nữa, nhờ theo dõi tin tức và nghe ngóng tin tức café vỉa hè, tôi tin chắc thế nào Mỹ cũng bỏ rơi Việt nam, nên tôi quyết định ra đi. Tôi còn muốn rủ mấy đứa bạn thân như Quốc Long, Đức Hải đi chung, nhưng nhờ Trãi thì ngại, nên tôi nảy sinh ý định rủ tất cả anh em tìm đường ra Phú Quốc để đi, nhưng không ai chịu cả. Gia đình đứa nào cũng còn kẹt ở Đà Nẵng nữa, nên tất cả từ chối. Thế là tôi đành đi theo Trãi ra Vũng Tàu.
Trước khi đi, anh tôi cho $10.000.00 đồng tiền Việt lúc bấy giờ, chị tôi cho thêm $5.000.00 nữa. Trãi và tôi lên xe đò ra Vũng Tàu. Hôm ấy khoảng 24-4-1975 . Ra đến nơi kiếm tàu của gia đình Trãi không thấy đâu cả, chúng tôi đành ở lại nhà mát của ông Bác Trãi (nhà Bố của ca sĩ Việt Dũng). Ở đây được ba hôm thì chúng tôi thấy xuồng của Hải quân vào đón thân nhân của mấy tàu lớn đang đậu ngoài khơi. Lúc ấy tình hình khá lộn xộn , nên chúng tôi cứ nhảy đại lên tàu và được đưa ra tàu lớn đậu sẵn ngoài khơi. May quá lên được tàu lớn rồi thì chúng tôi mới yên lòng.
Từ đó tôi nghĩ là ra đi sẽ không bao giờ có ngày trở lại, không còn cơ hội để gặp lại gia đình thân nhân bạn bè nữa. Ấy thế mà không hiểu tại sao lúc ấy ý chí ra đi của tôi lại mãnh liệt như thế, quên hết tất cả, chỉ biết đi thế thôi, đúng là người con bất hiếu ! ???. Lúc ấy tôi muốn khóc xin Ba Má thứ lỗi cho đứa con bất hiếu này, từ nay ra đi không bao giờ có ngày gặp lại. Lòng tôi quặn đau, nhưng sao vẫn không rơi được một giọt lệ nào , đành câm nín đau khổ cho cái số phận cô đơn của tôi vào lúc ấy. Chiến hạm Hải Quân Công Xưởng 802 đưa chúng tôi sang Summit Bay ở Phi Luật Tân. Chúng tôi được đưa tiếp sang Guam rồi đến trại Fort Chaffee ở Arkansas và cuối cùng thì tôi được người quen bảo trợ ( sponsor ) sang Cali, nơi mà có lẽ thời gian tôi sinh sống còn lâu hơn là ở Đà Nẵng.
Tôi xem đây là quê hương thứ hai của tôi, nhưng cứ mỗi khi nhớ lại những ngày còn chơi chung với đám bạn ở đường Đống Đa Đà Nẵng, là lòng tôi thấy khắc khoải nhớ nhung đến cái thiên đường hồi bé của tôi. Mới thấy là không có nơi nào đẹp bằng Quê Hương mình đã ỡ, và lớn lên, dù nơi đó đã phải trải qua một cuộc chiến quá đau thương vào lúc bấy giờ.
Chuongcom Cali ( 10-21-2002 )
Bài này xin riêng tặng Nguyễn Ngọc Trãi và các bạn trường Phan Châu Trinh niên khóa 1968-1974.
(“ĐS Kỷ Niệm 50 năm thành lập trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, 29 tháng 11 năm 2002 “ )

Cho tôi xin một sớm bình yên
Nằm dưới cội tùng nghe lời chim hót
Nghe từng giọt sương rơi thảnh thót
Trên từng lá xanh trên mỗi đài hoa
Nhìn mặt trời hồng chân mây xa
Đuổi tiếng côn trùng chìm vào giấc ngủ
Nhìn từng lộc non nẩy mầm hé nụ
Gió ban mai thổi ngọn cỏ rì rào
Mây rất xanh trên bầu trời cao
Hồn mênh mông vô cùng vô tận
Bao cay đắng muộn phiền hờn giận
Bao lo toan tan biến hư vô
Rất đổi ngọt ngào rất đổi trẻ thơ
Lòng tươi sáng một vầng nguyệt bạch
Nhẹ như nõn, mềm như tơ, trong như ngọc
Rất hồn nhiên thuở tuổi lên mười
Trong không gian văng vẳng tiếng cười
Ríu rít yêu thương, dịu dàng hoa mộng
Đầu gối cỏ nhìn đất trời chuyển động
Thời gian bâng khuâng non nước nhiệm mầu
Hồn ngất ngây như nụ hôn đầu.
Trần Hoan Trinh
( “ Tiếng Chim Ngoài Cửa Lớp “, Đà Nẵng 2002 )

Mình về giũ áo mưa bay
Bỗng dưng nước mắt ngang mày lạ chưa
Phải mùa thu cũ đong đưa
Phải tình yêu cũ bây giờ hồi sinh
Nghe lòng như sóng lênh đênh
Nghe hồn như biển âm thầm gọi sông
Phải mình đã phụ nhau không
Mà mười năm đó bềnh bồng hai nơi
Em về xoã tóc trêu ngươi
Tôi khăn gói rủ mây trời lang thang
Ngỡ quên đi chuyện bèo tan
Chợt chiều nay lại bàng hoàng ngẩn ngơ
Mai về phố cũ trường xưa
Đền em năm tháng đợi chờ đã qua
Mai về mặc áo thêu hoa
Đền em tất cả trời xa trời gần
Thôi đành xóa hết phong trần
Ngắm hoa rơi rụng trắng sân miệt mài
Tóc mai sợi ngắn sợi dài
Mai về phấn điểm hương cài cho nhau
Trăm năm nước chảy qua cầu
Mai về cởi áo cho nhau cuộc đời

Trần Hoan Trinh
( “ Bỏ Trường Mà Đi “ thơ Trần Hoan Trinh, Trò Xưa xuất bản tại Hoa Kỳ, 2002 )
“ Thương vô biên những con đường Đà Nẵng
Buổi học về im bóng lá Quang Trung “
Năm 1957, tôi thi đậu vào Đệ thất trường công lập Phan Châu Trinh, bắt đầu cho những năm tháng miệt mài đèn sách bên thầy cô, bạn bè. Mãi đến bây giờ , dưới lớp bụi thời gian phủ mờ vùng ký ức , có những hình ảnh vẫn còn rõ nét, như mới vừa xảy ra ngày hôm qua.
Năm đó, trường có bốn lớp Đệ thất. Lớp Đệ thất 1 của tôi gồm toàn con gái , họp thành cái chợ, khiến thầy cô nào bước vào cũng đề cao cảnh giác. Không biết tôi có duyên với người di cư hay sao mà khi xếp chỗ, hai nhỏ ngồi bên phải và bên trái tôi đều đến từ phương Bắc : Nguyễn thị Bích Lan và Đinh thị Kim An . Bích Lan nói giọng Hà Nội rất chuẩn , phân biệt rõ ràng âm “ t “ , “ c” ( hiểu biết, xanh biếc ), có và không có âm “g “ ( nghiêng xuống, nghiên bút ), các dấu “ hỏi” ,” ngã “ ( bổng lộc, bỗng nhiên ). Cho nên mỗi lần đọc chính tả, thầy cô dạy vẫn thường cho Bích Lan lập lại câu đã đọc, thế là chúng tôi lắng nghe và không còn sợ viết sai nữa. Kim An có tính nghệ sĩ, thích chép thơ và ngâm thơ, giọng hay không thua gì Hồ Điệp ( nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng lúc bấy giờ ) .
Mới chân ướt chân ráo, thầy Nhân, giáo sư cố vấn giao cho tôi giữ chức Trưởng ban Văn nghệ, bao nhiêu trách nhiệm đổ trút lên vai , nào làm báo tường, tham gia ca hát. Tờ báo tường năm đó lấy tên là Mầm Non, với hai chữ M, N được tôi nắn nót ,cóp pi theo các mẫu chữ trong sách dạy thêu. Ban biên tập gồm nhiều người nhưng tôi chỉ nhớ mỗi Bích Lan với bức tranh Hai Bà Trưng vẽ bằng mầu nước rất “ấn tượng “. Tết 1958, thầy Nhân bắt buộc lớp phải có tiết mục văn nghệ mừng Xuân. Tôi thức suốt ba đêm liền, định viết một vở kịch cho các bạn trình diễn. Viết hoài không được, tôi đành “ chôm “ ý một vở nhạc kịch của ban Thăng Long trong đĩa hát. Diễn viên gồm 4 đứa : Tôi và Hồ thị Hồng đóng vai thanh niên, Bích Lan và Phạm thị Duyệt đóng vai thôn nữ. Áo quần trình diễn được Thủy Tiên , con gái của chủ nhân Photo Phụng Ký cho mượn nên không gặp trở ngại gì hết. Vở kịch được các thầy cô tuyển chọn tham gia Đêm Văn nghệ Tất niên . Chúng tôi rất vui, nhất là Duyệt, mừng đến nổi nhảy nhót lung tung. Con nhỏ này rấr xinh, thật thà và đầy thiện chí. Nhưng cũng vì Duyệt mà tiết mục của chúng tôi bị “ bể dĩa “ một cách oan uổng . Số là khi lên sân khấu, học sinh cứ nhắm vào người đẹp mà hét ầm lên làm chúng tôi quên hết cả đối thoại.
Lớp tôi có Nguyễn thị Trân Châu, gương mặt đẹp thanh thoát như Đức Mẹ Đồng trinh. Nhớ có lần Châu mặc chiếc áo dài màu hoa cà ôm cặp sách đi tha thướt trên đường , thế là hai tuần sau , trên báo Văn Nghê Tiền Phong ,Sài Gòn , xuất hiện bài thơ đề tặng Tr.Ch. ký tên V.Y : “Em mặc áo màu tím, đi trong bụi hoàng hôn, tôi nhìn theo quyến lhuyến, cô đơn mãnh tâm hồn ...”
Niên khóa sau, chương trìng sinh ngữ được phân ban Anh văn và Pháp văn . “ Vương quốc nữ giới “ của chúng tôi bị chia năm xẻ bảy, phải học chung với các bạn nam. Lớp Đệ lục 2 của tôi chỉ có ba bàn nữ sinh nên tôi còn nhớ rõ : Phan thị Thu Liên, Phan thị Thu Hà, Châu thị Yến Loan, Phạm thị Quỳnh Chi, Hồ thị Hồng, Phạm thị Duyệt, Nguyễn thị Bích Lan, Nguyễn thị Bảo Hoà, Nguyễn thị Lạc Giao, Lê thị Trang, Ngô thị Kim Oanh, Nguyễn thị Thêm, Hồ thị Phấn. Nam sinh thì có Lê tự Rô, Tôn Thất Toản, Khương đại Lượng,Trần đình Thắng,Phạm Ngọc Chấn, Mai xuân Lương,Đinh văn Thìn, Đỗ Quí Tấn, Lê văn Chơn,Cao Ngọc Trãn, Nguyễn văn Khánh...
Trong 4 lớp cùng trang lứa, lớp tôi nổi tiếng nhất vì có nhiều người đẹp. Thu Liên có đôi mắt của Audrey Hepburn, Thu Hà giống cô gái Nhật Bản, Quỳnh Chi da trắng môi tươi, Phạm thị Duyệt có nét đẹp Tây phương, Hồ thị Hồng mắt to, mũi cao, nụ cười quyến rũ. Năm Đệ ngũ 2 có một kỷ niệm vui giữa Thu Hà và Mai xuân Lương trong giờ Việt văn của Cô Ngô thị Như Hà. Hôm ấy , cô dạy trích đoạn tác phẩm Chinh Phụ Ngâm , có hai câu : “Hà Lương chia rẽ lối này, bên đường trông bóng cờ bay bùi ngùi “. Thế là Đinh văn Thìn cặp đôi : “Hà Lương, Hà Lương “ , bên phía nam sinh vỗ tay reo hò, náo loạn cả lớp !
Nói đến bạn tốt , phải nhắc đến Lê thị Trang, con của ông Lê Ấm, cháu ngoại Cụ Phan Châu Trinh. Tính nết của tôi và Trang rất khác nhau. Trang đằm thắm, dịu dàng, khép kín, trong khi tôi thì hiếu động, lanh chanh, ưa chơi nổi như làm thơ đăng báo, dự thi ca hát , nhưng hai đứa lại rất thân nhau. Năm 1961, chúng tôi thi đậu Trung học đệ nhất cấp, Trang “uốn ba tấc lưỡi ” thuyết phục tôi cùng ra Huế thi vào khóa Nữ Hộ sinh, nhưng tôi từ chối. Sau đó hai đứa vẫn liên lạc thư từ. Đến 1965, Trang lấy chồng, gửi cho tôi một tấm hình đám cưới, rồi im hơi lặng tiếng cho đến 30 năm sau. ( Năm 1995, tôi về Đà Nẵng có ghé thăm Trang. Trang đã nghỉ hưu , con cháu đầy đàn ).
Năm 1961, lớp Đệ tam A của chúng tôi lại thay đổi thành viên. Anh văn và Pháp văn học chung, Một số bạn qua ban B, ban C. Một số bạn từ hồi học chung Đệ thất 1 nay trở lại như Võ thị Hồng Đóa, Bùi thị Lệ Hằng, Lê thị Quý Phẩm, Đặng thị Thành, Lưu thị Lựu, Bùi thị Hồng , Đào thị Thái, Lê quang Thục Nhi...hoặc từ trường ngoài thi vào như Tôn Nữ Như Hảo, Nghiêm thị Kim Ngân...Các bạn nam có Vương Ngọc Hà, Vũ văn Long, Nguyễn hữu Lân, Phan Xuân Tứ, Trần Duyệt Tảo...
Đến năm Đệ nhất, lớp tôi xuất hiện một người đẹp có nhan sắc của nàng Thúy Vân . Đó là Hoàng Bích Quân với “ Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”, đã làm ngây ngất bao trái tim si tình ! Cũng vì vậy mà lớp tôi đã xảy ra “ vụ án Con lắc đơn trên xe Opel “ mà mãi đến bây giờ tôi tin chắc là các bạn vẫn còn nhớ ?
Sau kỳ thi Tú tài II ( 1964 ) chúng tôi như những cánh chim trời tung bay bốn phương :
“ Thôi xin giã từ mây trời thành phố
Hàng cây nghiêng nghiêng ôm bóng Bạch Đằng
Mai này xa xôi vọng về quá khứ
Ghế đá ngậm ngùi, tâm sự giá băng ...”
Trên những chặng thời gian của cuộc đời, tôi đã gặp lại một số trong những người bạn mà tôi đã nhắc đến tên trong bài viết này. Năm 1966, tôi gặp Lê quang Thục Nhi ở Huế. Hai đứa vừa đi vừa nói chuyện suốt chiều dài cây cầu “ Tràng Tiền 6 vài, 12 nhịp “ , rồi chia tay cho đến 33 năm sau.
Năm 1968, tôi gặp Thu Hà ở trường Dược Sài Gòn. Hà nói chuyện rất vui và cởi mở, không còn trẻ con như xưa nữa. Cũng năm này tại Sài Gòn, tôi đã gặp Duyệt. Duyệt có một con trai và đang mang bầu đứa thứ hai.
Năm 1970, tôi gặp Bích Quân ở chợ Bến Thành. Quân khoe vừa sinh con gái đầu lòng (sau này thấy cô hoa hậu Lý Thu Thaỏ có gương mặt hao hao Bích Quân, năm sinh cũng trùng hợp, tôi nghĩ cô ta là con của BQ, nhưng hỏi lại thì không phải ).
Năm 1971, tôi gặp Lệ Hằng ở toà soạn báo Tuổi Hoa. Lúc này Lệ Hằng đang nổi tiếng như cồn với những cuốn tiểu thuyết trữ tình : Thung lũng Tình Yêu, Mắt tím, Bản Tango cuối cùng...
Năm 1972, về Đà Nẵng tôi gặp lại Bích Lan, đã có bốn con. Hồ thị Hồng góa bụa. Lưu thị Lựu, Tôn Nữ như Hảo và Châu thị Yến Loan đang dạy học. Kim Oanh bán hàng kim khí điện máy ở Chợ Cồn.
Năm 1975, tôi gặp Đặng thị Thành làm Giám hiệu một trường Tiểu học, Nguyễn hữu Lân hành nghề bác sĩ tại nhà. Trân Châu dạy học ở Cần Thơ.
Năm năm, mười năm, tồi mười lăm năm sau, đến năm 1999, tôi nhận được cú phone :
- “ Ái ơi, biết ai đây không ? Thục Nhi nè. Mình ở Pháp về chơi. Ngày mai mình về lại rồi
- Trời đất, ngày mai đi sao giờ mới gọi ?
- Xin lỗi Ái, rất tình cờ Nhi mới được số phone của Aí. Cận ngày quá, thôi hẹn sang năm nhé. Năm nào Nhi cũng về Việt Nam cả.”
Cũng trong năm này, vài tuần sau đó, điện thoại nhà tôi lại reo :
-“ Alô, chị Ái phải không ? Tui nè, Toản Phan Châu Trinh ngày xưa đây. Nhớ không ?
- Toản ? Phải “ Tôn Toản Bốc Sư “ không ?
- Đúng rồi. Tui ở Mỹ về, muốn gặp lại bạn bè Phan Châu Trinh cũ, chị giúp tui được không ?
- Sẵn sàng”
Buổi họp mặt tổ chức tại nhà Đào thi Thái, có Nghiêm thị Kim Ngân, Phạm thị Quỳnh Cư ở Sài Gòn, Lê tự Rô, Phan Xuân Tứ ở Biên Hoà. Ngoài ra còn có thầy Vĩnh Vinh, dạy Pháp văn năm Đệ tứ. Tôn Thất Toản ngày xưa thường bị trêu là “ Tôn Toản Bốc Sư “, giờ đã là Thượng tọa Tịnh Đức nên trong cách xưng hô chúng tôi hơi ngỡ ngàng, nhưng chỉ giây phút ban đầu thôi, bao kỷ niệm dưới mái trường Phan Châu Trinh ngày cũ tràn về, đã nối kết những trái tim thân ái. Thái làm hai món Tôm Rang Me và Cháo gà. Tôi bảo nó : “Chết rồi , Thượng tọa làm sao ăn mặn được ?”. Quỳnh Cư cười : “ Khỏi lo, Cư có đem theo món chay đây “. Ôi một mâm thức chay thịnh soạn ! Cô bé này quả chu đáo thật. Sau khi Toản mang theo tin tức bạn bè ở Việt Nam về Mỹ, tôi nhận được airmail của Đinh thị Kim An và Phạm thị Duyệt, sau đó là email của Trần đình Thắng, ba bạn này đang ở Mỹ. Nói làm sao xiết nỗi vui mừng.
Cuối năm 1999, Lê Kim An , học sau chúng tôi một năm, từ Canada về Việt Nam. Buổi họp mặt tổ chức tại nhà Phạm thị An,( con gái thầy Khánh dạy vẽ ). Lê Kim An cho biết hiện anh đang ở gần nhà Phan thị Thu Hà. Tôi gởi cho Hà tấm danh thiếp.
Đầu năm 2000, tôi nhận được thư của Hà, có cả hình nữa, phía sau viết : “ Ái ơi, 55 tuổi rồi, dễ sợ quá ! “ Sai rồi Hà ơi, có chi mô mà sợ ? Hà không khác xưa mấy, chỉ hơi “ mệnh phụ “ chút thôi.
Tôi rất vui khi liên lạc được với bạn bè cách xa nửa vòng trái đất. Niềm vui càng nhân lên gấp bội khi tôi nhìn thấy trên Website Phan Châu Trinh do Vương Ngọc Hà thiết kế những bài viết, những hình ảnh thân yêu của thầy cô, bạn bè cũ...Vui nhất là trang “ Lưu Bút Ngày Xanh “ . Tôi đã email cho Hà : “Không ngờ ngày xưa Aí viết bậy bạ quá ! “.
Tháng 7 năm 2001, Thục Nhi về Việt Nam cưới dâu. Đám cưới rất vui. Ngoài bạn bè như Quỳng Cư, Quý Phẩm, Đào thị Thái, Lê tự Rô, Phạm Ngọc Chấn còn có thầy Việt dạy Pháp văn năm Đệ nhất, thầy Trần Đại Tăng dạy Toán năm Đệ nhị, thầy Vĩnh Vinh. Hình ảnh anh bạn Hoàng Ngô mặc veste xanh dìu “ Bà mẹ chồng Thục Nhi “ rất dễ thương trong chiếc “ robe “ lụa đỏ bước lên sân khấu cùng dâu rể ra mắt hai họ trong cuốn băng video gây “ ấn tượng “ đến nỗi Trần đình Thắng email cho biết có hai bạn ( xin dấu tên ) có ý định nộp đơn xin đóng vai của Hoàng Ngô trong những lần tới ! ( Thục Nhi còn hai cậu con trai nữa ).
Trải qua bao sóng gió cuộc đời, người thành đạt, kẻ không gặp vận may, người còn ở Việt Nam, kẻ sống đời lữ thứ, thời gian không buông tha một ai. Tất cả chúng ta, giờ tóc đã không còn xanh, da đã không còn thẳng, hãy xích lại gần nhau, cùng nhớ về những ngày xưa.
Tuyết Aí ( PCT 1957 – 1964 )
( Đặc San kỷ niệm 50 năm thành lập Trung học Phan Châu Trinh. 29 tháng 11 năm 2002, Little Saigon, Hoa Kỳ )
Tháng 7, giữa mùa Hè, khoảng thời gian các Họp Mặt PCT thường được tổ chức.
Tháng 7 năm nay lạI về, chân thành tưởng niệm các anh chị và bằng hữu PCT đã ra đi :
Sư Tịnh Đức Tôn Thất Toản, Trần thị Ngọc Trai, Trần t Ngọc Bích, Đoàn Ngọc Đông,Tôn Thất Tuấn, Lương Mậu Cường, Chế văn Thức ,Trần Hữu Hội,Trần Nhật Ngân, Nguyễn Thu Giao, Thái Thanh, Đoàn thị Tường Vi,Phạm t Duyệt, Lê Khả Trính, Đỗ Ngọc Lệ, Nguyễn Hữu Lân, Trần Duyệt Tảo, Trần Ngọc Toàn, Lê Tự Rô, Cao Ngọc Trãn,Nguyễn văn Tham,Nguyễn Đức Trì, Nguyễn Thế Anh, Mai Gia Kim Tri,Phan văn Chín, Nguyễn Thiếu Ưng ,Nguyễn thị Aí và Võ Văn Đức.
***
Sau Đại hội Phan Châu Trinh toàn thế giới kỳ II ( tại Cali tháng 7, 2012 ), trở lại nhà cũng hơn bốn tuần qua,nhưng niềm vui ấm áp được gặp lại Thầy Cô xưa và bằng hữu cũ như hãy còn mãi trong tôi.
Đại hội chính đã được ghi lại nơi bài tường thuật “ Nghĩa Thầy & Tình bạn Phan Châu Trinh “ của Linh Nguyễn. Vì thế, bài viết nhỏ này, chỉ là những cảm nghĩ đơn sơ về các buổi Họp bạn và gặp gỡ thân tình giữa những cựu học sinh Phan Châu Trinh nhiều niên khóa khác nhau, trước và sau Đại hội.
Khác với Họp Mặt Phan Châu Trinh toàn thế giới kỳ I ( tháng 7- 2009 ), Đại hội toàn thế giới kỳ II ( ngày 1 tháng 7-2012 ) lần này không có buổi “ Tiền Đại hội “ chung cho cả Trường. Tuy nhiên, ngoài Họp Mặt của nhóm PCT niên khóa 1954-60 như lần trước, đã có tất cả những bốn buổi Họp Mặt của các liên lớp trước đêm Đại Hội chính .
Khởi đầu là Họp Mặt của liên lớp PCT 1957- 64, vào chiều thứ năm 6/28/2012 tại Nhà hàng Hương Vỹ. Ngoài những bạn hiện ở Mỹ hay Canada, còn được gặp lại những người bạn sau gần nửa thế kỷ như Phạm Vũ Thi, hay các bạn như Mai Gia Kim Tri và Phạm Ngọc Chấn, đến từ Việt Nam. Ngày xưa chung lớp hoặc chung trường nhưng chưa bao giờ bằng hữu có dịp hàn huyên , chuyện trò cởi mở, thân mật và vui như hôm nay. Quả đúng như lời của Thầy Tịnh Đức :
“ Cám ơn các bạn cho ngày hội ngộ
Một ngày vui sống lại tuổi ngây thơ “
( Tôn Thất Toản )
Họp Mặt kế tiếp là của liên lớp PCT 1958 – 65, vào thứ bảy 6/30/2012, tổ chức tại Mile Square Park, công viên đẹp và rộng mênh mông. Ngoài ra còn một số cựu PCT 1956-63 và PCT 1957-64 cũng đến tham dự buổi Picnic này. Được cùng nhau hát lại “ Hành khúc Phan Châu Trinh “ trong một buổi mai cuối tuần đẹp trời là một niềm vui để nhớ mãi.
Cám ơn thân tình của tất cả các anh chị, các bạn và vòng hoa thân ái của Quỳnh Chi. Cám ơn anh Võ Thiệu đã ghi lại những hình ảnh đẹp và đầy đủ bằng hữu .

Chiều thứ bảy 6/30/2012, Họp Mặt của liên lớp 1956-63 tại nhà anh chị Nguyễn văn Hồng, cũng có vài PCT khác niên khoá và thân hữu. Cảm ơn anh chị gia chủ, và nhã ý của Ngô Phước An cùng Lê văn Long.

Chiều nay gặp các anh chị và bạn hữu PCT nk 56-63, không khỏi nghĩ đến anh Trần Nhật Ngân . Nhớ mãi buổi sáng Chủ Nhật mùa Hè năm đó, 2012, cùng Thu Liên và Ngô Phước An đi thăm mộ của tác giả “ Tôi Đưa Em Sang Sông “.

[ Mộ phần của Nhạc sĩ Nhật Ngân ( Trần Nhật Ngân nk 1956-63 ) ]
Cũng trong chiều thứ bảy 6/30/2012 này, Họp mặt của liên lớp PCT 1959-66 với bạn bè và thân hữu được biết đã tổ chức tại nhà của Minh Nguyệt và thầy Tạ Quốc Bảo.
Những Họp mặt trên, tuy được xem là “ liên lớp “, nhưng đây chỉ là một cách để gọi vì người đứng ra tổ chức thuộc niên khóa nêu lên. Hầu như những Họp mặt hoặc gặp gỡ thân tình PCT nào cũng ít, hoặc nhiều chen lẫn các niên khóa. Bởi lẽ ngày xưa đi học, bạn bè củng trường có thể không quen nhưng cũng đã biết nhau. Bây giờ ở tuổi lớn, niềm thương mến Trường xưa là động lực chính đưa tất cả đến với nhau , trong tình thân PCT cũ.
Thứ hai 7/2/2012, một buổi chiều Cali chan hoà nắng ấm, theo chỉ dẫn của bạn Huỳnh Thị Phú, chúng tôi tìm đến ngôi nhà “ có cây hoa vàng trước ngõ... “.
Cùng với Trần Duyệt Tảo và Huỳnh Thị Phú, hai người bạn sốt sắng và chủ động tổ chức Họp Mặt, anh Đoàn Ngọc Đông , ông xã của Phú, cũng là một cựu học sinh của Trường cũ, nhưng anh thuộc thế hệ PCT đầu tiên. Tương tự Họp mặt của các liên lớp khác, buổi Hội ngộ của PCT 1957-64 chiều nay cũng đã qui tụ nhiều cựu PCT cùng thế hệ ở những niên khoá gần nhau.

( t-p : Anh Đoàn Ngọc Đông thuộc thế hệ PCT đầu tiên, Huỳnh t Phú ,PCT 1957-64, Nguyễn Phụng, PCT 1955-61, chị Như Ý ,hiền thê của anh Nguyễn Phụng )

( t-p : Phan t Thu Liên, PCT nk 1957-64, Lê văn Long, PCT nk 1956-63 )
Trong số đến chung vui, nhận thấy có các anh chị, các bạn cùng thân hữu sau :
- Nhóm PCT 1955-61 : với Nguyễn Chí Thiệp, tác giả “ Trại Kiên Giam “ và “ Việt Nam Khát Vọng Dân Chủ Tự Do “ , và chị Bạch Tuyết ; Nguyễn Phụng và chị Như Ý...
- Nhóm PCT 1956-63 : với Trịnh Thị Diệu Lan và anh Thông, Ngô Phước An, Nguyễn đức Bông, Lê Văn Long, tác giả ca khúc “ PCT một thời để nhớ, để thương “, Đào Bạch Thạch và chị Hoa.
- Nhóm PCT 1558-65 : với Võ Thiệu, Phạm thị Quỳnh Chi và anh Trần Quang Mẫn, Nguyễn Sỹ Tiệp...
- Nhóm PCT 1959-66 : với Nguyễn Tuấn và Nguyễn thị Hoà, Minh Nguyệt và thầy Tạ Quốc Bảo , Ngô thị Phước Khánh, Thái Thu, Đỗ Thu và anh Trâm…
- Nhóm PCT 1957-64 : với thầy Tịnh Đức Tôn Thất Toản, Huỳnh Thị Phú và anh Đoàn Ngọc Đông, Trần Duyệt Tảo, Phan Thanh Hoà và Bích Đào, Nguyến Đức Trì, Lê Thị Cử, Nguyễn Thế Anh và Tiên Dung, Mai Gia Kim Tri, Mai Xuân Lương, Phạm Vũ Thi, Võ Thị Hồng Đóa, Nguyễn Gia Ẩn, Hoàng Bích Quân, Bùi thị Hồng Vân, Phan thị Thu Liên, Phan thị Thu Hà...

(t-p : PCT nk 1957-64 : Lê t Cử, Nguyễn gia Ẩn, Bùi t Hồng Vân, Phan t Thu Liên,Phan t Thu Hà, Võ t Hồng Đóa ...)

( Ngô t Phước Khánh, PCTnk 1959-66 )
Chiều nay Trương Công Lập, Trưởng ban tổ chức Đại hội PCT toàn thế giới kỳ II và chị Ngọc cũng lại chung vui, dù sau Đại hội anh Trưởng ban tổ chức chắc cũng đã thấm mệt ?
Người MC vui vẻ, hoạt bát của Họp Mặt hôm nay, Nguyễn Ngọc My, trong một chương trình văn nghệ đặc biệt với những tiếng hát PCT xưa : Nguyễn Phụng, Nguyễn Đức Bông, Phước Khánh, Lê Văn Long...và các thân hữu Kim Loan, Như Ý, Thu Cúc...với những ca khúc :
- “ Thu hát cho người “ và “Mười thương “ qua tiễng hát ấm áp của PCT 56-63 Lê Văn Long
- “ Màu tím hoa sim “ với giọng ca mạnh của PCT 56-63 Nguyễn Đức Bông , nhưng dìu dặt với bản “ Hương Xưa “. ( Một tình cờ, Cali chiều nay cũng không thiếu “ nắng tơ vàng hiền hoà “ )
- “ Hoa Soan Bên Thềm Cũ “ , “ Bảy Ngày Đợi Mong “, “ Chuyện Phim Buồn “ đầy gợi nhớ với PCT 59-66 Phước Khánh, “ họa mi “ của một thời PCT xưa cũ...
- “ Tôi Đưa Em Sang Sông “ với Nguyễn Ngọc My. Bài hát từng được nhiều thế hệ PCT yêu thích. Chiều nay được nghe lại , giữa không khí họp mặt bằng hữu như thêm hay và gợi nhớ anh Nhật Ngân, tác giả của ca khúc .
- “Rừng lá thay chưa “ bài hát góp vui qua giọng ca “ đặc biệt “ ( hát hay không bằng hay hát ! ) của Sư Tinh Đức Tôn Thất Toản . Còn nhớ trong một Họp mặt nhỏ của nhóm PCT nk 57-64 tại Montreal, mùa hè 1999, lần đầu tiên bằng hữu bất ngờ được nghe Sư Tịnh Đức hát, và khám phá ra “ Niệm Khúc Cuối “ là “ bài tủ “ của thầy ! ( Dĩ nhiên vài câu trong tình khúc này đã được người hát sửa đổi ít nhiều cho thích hợp với ...người đi tu ! Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên , nếu biết, chắc cũng đành “hỷ xả “ ?! ).
- “Serenata- Chiều tà “ như thêm phần êm dịu qua tiếng hát thật hay của chị Kim Loan, một thân hữu.
-“ Yêu “ của Nhạc sĩ Văn Phụng với lời ca êm đềm như còn thiết tha hơn qua tiếng hát nhẹ nhàng và ấm áp của một thân hữu khác.
Phải nói chiều nay là buổi Họp mặt được nghe nhiều bản nhạc hay và nhiều người hát hay như vậy.
Ngoài ra còn tiết mục “ Kể chuyện tiếu lâm “ !! Hồng Đóa và câu chuyện “ Em hết biết “ khiến bạn bè nhớ lại một Hồng Đóa rất “ tếu “ hay đùa nghịch ngày đi học . Tiếp theo Minh Nguyệt với “Bộ aó thời gian “, câu chuyện mười năm trước ở buổi Họp mặt PCT đông đúc bằng hữu tại nhà Diệu Lan và anh Thông sau Đại hội kỷ niệm 50 năm thành lập trường PCT ( tháng 11/2002 ), nay được nghe lại vẫn thấy vui, như người kể chuyện, “ Bà Trưng Trắc “ của thời tiểu học Đà Nẵng xa xưa.
Ngoài Hồng Đóa, Lê thị Cử của Đệ Nhất A 63-64 năm nào, cũng góp vui qua một bài thơ ...buồn , vừa được Cử cảm hứng sáng tác ngay tại chỗ. Giờ bạn bè mới biết Cử còn là tác giả của nhiều bài thơ khác nữa !
Chương trình văn nghệ chiều hôm đó hấp dẫn đã giữ chân tất cả ở lại cho đến tối. Ra về, chúng tôi vẫn tiếc đã không cùng các bạn chụp một tấm hình nào nơi vườn hoa nhà Phú và anh Đông.
Vườn hoa xinh xắn và muôn màu, có lẽ đã được chăm sóc với tâm hồn của “ Đôi mắt người Sơn Tây “ ? Bạn bè chẳng ngạc nhiên khi thấy tấm bảng “ khen ngợi của City “. Vườn sau cũng đẹp như sân trước. Ngoài những cây xanh chen lẫn với hoa, màu sắc hoà hợp, vui tươi bên hồ tắm, lại còn miên man cây ăn trái : mãn cầu Xiêm, mãn cầu Úc, táo Tàu, thanh long ...Bụi chuối với tàu lá xanh mướt, gợi nhớ quê hương chỉ còn trong ký ức. Và dễ thương nhất là cây đu đủ, cao vừa tầm thôi, nhưng thật sa trái , nằm khiêm tốn ở một góc vườn...
Buổi tối gió mát, hơi lạnh lạnh, từ giả bằng hữu với chút gì như luyến tiếc. Cám ơn Tảo, cám ơn Phú và anh Đông, người gia chủ cởi mở và hiếu khách đã cho tất cả một buổi chiều khó quên. Cám ơn anh Võ Thiệu “ nhiếp ảnh gia PCT “ đã ghi lại “ Đêm Hội ngộ kỷ niệm 60 năm thành lập trường PCT” cũng như các Họp mặt trước và sau Đại hội với những hình ảnh linh động, đẹp và đầy đủ. Người ta thường nói, tưởng nhớ ở trong lòng, nhưng những tấm ảnh đã cụ thể hoá những gì trong tâm tư.
Và như lời của một người bạn PCT “ Cuộc họp nào cũng tan, cuộc vui nào rồi cũng tàn... “, xin mượn mấy câu trong bài thơ “ Những Cánh Chim Đoàn Viên “ của HH Nguyễn Bích Thuận , một cựu PCT ( nk ? ) để kết thúc bài viết nhỏ này :
“...Nỗi nhớ, niềm thương
Nỗi cảm động vấn vương...
...Ôi thương quá, Trường xưa Thầy bạn cũ ...”
Xin cầu chúc tất cả nhiều an lành và sức khỏe . Ước mong một lần nào được gặp lại.
Thi Vân,
Tháng 8/2012