Trung Học Phan Châu Trinh

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active

 

KimLuon thieu nu hue va mua xuan8

( Gởi Mai Thạch, người bạn quí từ thuở còn thơ  )

          Người Huế, “ con trai Huế ”,”con gái Huế ”,” nón Huế “, ”mè xửng Huế “, “ đặc sệt Huế “...Những từ, những tiếng ấy đã xác nhận Huế có một đặc tính riêng, một phong thái , một cảm nghĩ, một tâm tình riêng.

          Tôi cũng đồng ý là “ Huế mình “ có một nét gì khác biệt trong cộng đông chung của dân tộc. Nhưng xin đừng bảo tôi .dù tôi đã sinh ra và lớn lên ở Huế, nêu rõ cái khác, cái riêng biệt của người Huế mình. “ Khó cho tui lắm, biết nói răng cho ra bây chừ “.

          Cũng từng ấy màu sắc, xanh,đỏ, tím, vàng...màu chính và màu phụ, nhưng người nghệ sĩ tài hoa đã tạo  dựng nên một màu sắc độc đáo cho bức tranh của mình, không làm sao cắt nghĩa được. Người Huế cũng vậy, cũng với từng ấy thất tình và lục dục, nhưng Tạo Hóa đã pha chế, nhào lộn, hoà hợp, vắt ra cho người Huế một tâm thái riêng.

          Bảo người Huế buồn cũng không đúng, vui cũng không đúng. Bảo người Huế lạnh lùng ? – Không, người Huế tha thiết,nồng nàn lắm ! Bảo người Huế nghiêm trang ? Cũng không đúng nữa. Nghiêm trang sao mà có thể “ liều “ cả ngai vàng cho một “o “ con gái diễm kiều :

Kim Luông có gái mỹ miều

Trẩm thương, trẩm nhớ,trẩm liều, trẩm đi

          Ngày tháng ở Huế thật kỳ lạ, có những tháng dầm dề suốt mấy mươi ngày không thấy một chút “ nắng doi “. Có những ngày nóng bỏng, gió Nam hun hút. Nhưng đặc biệt là có những cơn “ mưa nắng “, vừa nắng lại vừa mưa hay vừa mưa lại vừa nắng. Thế thì bảo là mưa hay nắng ? Trông “ rứa “ mà không phải “ rứa “; không phải “ rứa “ nhưng là “ rứa “. Đó là Huế.

          Ngày xưa còn nhỏ, ở Huế,tôi thường nghe hát :

Ngó lên hòn núi Thiên Thai

Thấy đôi chim quạ ăn xoài trên cây

          Không biết Thiên Thai là chốn thần tiên nào, nhưng đối với tuổi thơ của tôi thì Thiên Thai là đỉnh Thiên Thai ấy,hòn núi nằm bên cạnh Ngự Bình. Mơ đến chốn thần tiên tôi thường nhìn lên đỉnh núi. Trên đỉnh có cây thật,có đôi chim quạ bay qua bay lại và có cả những ông tiên đánh cờ. Lớn lên ít tuổi,14, 15, may mắn chưa mất trí tưởng tượng của tuổi thơ, tôi thích thú trèo lên đỉnh Thiên Thai, nhất là những ngày có mưa thật nhẹ, với gió lạnh phơn phớt và thui thủi một mình. Lên đỉnh núi ,chẳng thấy cây xoài đâu cả, cũng chẳng có đôi chim quạ, chỉ thấy mấy gốc thông đìu hiu trước gió. Trở về nhà, lại đứng nhìn lên đỉnh núi. Bỗng dưng “ thấy đôi chim quạ ăn xoài trên cây “.Không biết có chủ quan không, nhưng tôi tin rằng “ Huế mình “ là như rứa đó.

          Ai không tin, tôi xin đưa ra chứng cớ rõ ràng. Huế là xứ của hò mái nhì và mái đẩy. Nhà nằm ngay bên bờ sông Đông Ba, nên đêm khuya thường nghe văng vẳng :

Thuyền về Đại Lược

Đò ngược Kim Luông

Đến đây là chỗ rẻ của lòng...

          “ Ai “ hò đó, xin cho biết là buồn hay vui ? Vui gặp gỡ trong phút chốc mà buồn thì mênh mang như ngã Ba Sinh, phá Tam Giang, rười rượi như tiếng gọi đò nơi bến Ca Cút. Vui mà buồn, buồn mà vui. Và đây nữa :

Mãn mùa tót rạ rơm khô

Bạn về quê bạn biết mô mà tìm

          Tiếng “ bạn “ thật dễ thương. Bạn không chỉ có nghĩa là “ ami “, là “ camarade “, “ amigo”, “ friend “, “ follow “,” péngyou “...; “ bạn “ở đây, có nghĩa là những người trai trẻ ( trai bạn ), cần cù, dễ thương, hiền lành, đến làm thuê, gặt giúp, đổi công, lúc ở quê mình, ngày mùa chưa đến, hay đã qua rồi. Bao nhiêu mối tình thầm kín giữa trai gái đã chớm nở trong cuộc “ di cư “ tạm thời đó. Rồi mộng mơ, chờ đợi cho đến năm tới, để không biết có gặp lại người “ bạn “ đã đi qua đời mình hay không.

          Những năm còn trên ghế nhà trường, chỉ biết bạn là bạn học, và cũng có những mối tình thơ dại, nên cũng bắt chước theo, mỗi lúc hè đến :

Mãn mùa rôi, giấy hết mực khô

Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm.

Dù ngày mai, ngày mốt , có khi gặp mặt hàng ngày.

          Xin cho phép tôi nêu lên một bằng chứng khác. Tôi không có diễm phúc được mẹ bồng trên tay để ru ngủ vì mẹ tôi đã mất sớm. Nhưng may mắn tôi còn bà nội và bà nội tôi cũng thường ru tôi hay em tôi ngủ. Một bài hát ru tôi thường được nghe là :

Ru em cho thét cho muồi

Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mở đầu xong, bà nội cho  tôi đi một vòng chân trời trong tỉnh, thăm thú nhiều làng mạc với những sản phẩm đặc trưng :

Mua vôi chợ Qúan, chợ Cầu

Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh

Chợ Dinh bán áo con trai

Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim

Tự nhiên chuyển ý, bà tôi cho tôi đi xa hơn, nhờ nàng Kim Liên đẩy xe đưa đến miền Hà Khê:

 Kim Liên ơi hỡi Kim Liên

 Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê

Không rõ đây là nàng Kim Liên nào, không biết có phải là nàng Kim Liên trong Lục Vân Tiên không. Nhưng như tất cả mấy đứa con nít khác cứ lên xe là ngủ, tôi cũng thiu thiu rồi lạc lối vào giữa miền Hà Khê chập chùng :

Hà Khê vừa núi vừa non

Tôi “thét “ một giấc thật muồi, tâm tư vời vợi những hình ảnh núi non, cây cối, chim muông diệu kỳ. Cứ lấy bất kỳ một câu hò, câu hát nào của Huế chúng ta đều thấy những tình cảm trái ngược quyện lấy với nhau, nội tâm và ngoại cảnh hoà hợp làm một. Nuôi dưỡng trong cái buồn vui lẫn lộn như “ sông An Cựu nắng đục mưa trong ; như “ Ngự Bình trước tròn sau méo “, tâm tính người Huế thường trầm tĩnh nhưng cương nghị lạ lùng.

Nhưng lúc trưởng thành rồi, tôi tự hỏi có phải chăng chỉ vì từng ấy mà khiến cho con người Huế trầm tĩnh, cương nghị ?

          Trong một thóang bất ngờ, tôi chợt thấy không phải chỉ có từng ấy. Điều quan trọng là con người Huế đã sống trong dòng ý thức miên trường của tiến trình lịch sử. [ Xin phân biệt ý thức về lịch sử  ( la conscience de l’histoire ) và ý thức về tiến trình lịch sử ( la conscience de l’historicité ) }. Ý thức về tiến trình lịch sử, nói khác đi là lịch sử sống trong tiềm thức hay vô thức, như cái đà sống (élan vital ) đưa đẩy chúng ta đi, như cội rễ gắn cây vào lòng đất

          Những nhà văn Siêu Thực (Surréalistes  )đã có một nhận định sâu sắc  : Cuộc sống ý thức thật nghèo nàn so sánh với cuộc sống vô thức hay tiềm thức. Cảm xúc và điều chúng ta gọi là tư tưởng luôn luôn trào không ngừng nghỉ theo dòng sống nhiệm kỳ như lúc ngủ mộng đến một thế giới aỏ huyền. Sự thực không nằm trong tư duy theo hệ thống nhưng ở trong siêu thức. Theo siêu thứcnhững nhà siêu thực đã có những giòng văn tự động ( écriture automatique ), chảy trôi theo mạch sống, thành thật, tự nhiên. Mà cuộc sống của “ Huế mình “ thì như đắm vào trong giòng tiến trình lịch sử, tiềm thức lịch sử.

          Nhiều thế hệ của Huế đã hãnh diện với Quốc Học và Đồng Khánh. “ Học Đồng Khánh như được ân thưởng một tước vị quý tộc “, chị Tố Tâm đã nhắc lại lời bà Hiệu trưởng Martin, trong tập Tiếng Sông Hương năm 1991.  Nhưng Quốc Học là Dinh Cơ, Đồng Khánh là Dinh Thuyền, đã có một thời vàng son :

Dinh Cơ rồi đến Dinh Thuyền

Hai bên Trường Súng, Trường Tiền bằng nhau

Bây giờ Dinh Cơ, nơi lo việc xe, và Dinh Thuyền, nơi lo việc thuyền, cho quê hương đất nước, tồn tại ở đâu ? – Nếu không ở trong tiềm thức chúng ta.

          Đối với phần đông  người Huế, Huế là chợ Đông Ba rộn rịp đò dọc, đò ngang, là cầu Tràng Tiền , màu bạc nên thơ trên giòng nước biếc, huyền ảo trong sương mù. Chợ Đông Ba đã dời chỗ, cầu Tràng Tiền đã xây lại với vật liệu mới :

Chợ Đông ba đem ra ngoài giại

Cầu Tràng Tiền đúc lại xi-mon

Nhưng những đổi thay kia cũng là một tiếng gọi thầm kín, thiết tha của đất nước :

Hỡi người lỡ vận chồng con

Về đây gá nghĩa vuông tròn cùng  ta

Kẻ mất nước cũng như “ người lỡ vận chồng con “ không còn có người để gắn bó thương yêu “ gá nghĩa vuông tròn “ cũng như xây lại hạnh phúc lứa đôi, thuận vợ thuận chồng để xây lại mối tình thiết tha giữa con người và xứ sở.

          Cảnh Huế thật đẹp, đẹp nhất đối với tôi là con đường từ Thượng Tứ, đúng hơn là từ Thương Bạc hay trường Paul Bert đi lên phía Ngọ Môn. Đường chia ra hai lối thênh thang, giữa là một giải đất nhỏ ngăn đôi. Hai bên và ở giải đất giữa đường, trồng cây phượng vĩ. Những đêm trăng sáng, ánh trăng xuyên qua lá, bóng lá rung rinh in lên mặt đường. Đi trên đường như bước vào một thế giới huyền ảo. Đến Phu Văn Lâu ngồi lại, nhìn giòng sông lặng lẽ. Có thể quên đi tất cả theo cảnh vật, nhưng người Huế mình nặng lòng vì non nước làm sao mà quên được; nhìn bên kia sông bỗng thấy “ chạnh lòng “ :

Đèn ai thấp thoáng bên sông

Nghe câu mái đẩy ,chạnh lòng nước non

“ Bên sông “ là bên kia sông, là “ quartier francais” . Nhìn đèn bên kia sông, nghĩ tới thân phận mình. Nhiều sinh hoạt của Huế cũng hoà theo nhịp lịch sở. Ngày 23 tháng 5 Âm lịch, ngày Thất thủ Kinh đô, không ai bảo ai, mà nhà nào cũng cúng kiến. Có vào Thành nội, qua vùng Âm hồn, đi vào Cầu Đất, Tây Lộc, trở lại cửa Nhà Đồ hoặc chịu khó đi xa hơn chút nữa, lên đến Ba Đồn, nhìn sự cúng kiến thành khẩn mới thấy tâm hồn người Huế gắn liền với lịch sử. Nhân tiện xin nhắc đến mấy tiếng Ba Đồn. Ba Đồn là vùng đất nằm gần Ngự Bình, bên đường đi vào núi Thiên Thai. Đồn là nơi binh lính đóng trại, nhưng binh lính ở đây không phải là những người lính còn sống, nhưng lại là những người đã khuất bóng, hy sinh trong trận Pháp tấn công vào kinh đô Huế. Ba Đồn thành ra ba nấm mồ tập thể, hay ba mãnh đất bằng phẳng ở cạnh liền nhau, mỗi mãnh rộng chừng một sào ta, với ba bộ hương án bằng vôi, trên mỗi bệ có một bát hương tập thể. Ai đi qua đó mà không thấy bùi ngùi !  

          Có những sự mất mát tưởng chừng như có thể quên đi với thời gian, nhưng dìu dịu và lặng lẽ, chúng đã lắng chìm trong tiềm thức, thay đổi toàn bộ tâm tư chúng ta mà đâu chúng ta có ngờ tới.

          Trong lịch sử mất nước, chúng ta đã dần dần mất Đà Nẵng, Lục tỉnh Nam Kỳ, Hà Nội...như mất đi những phần của chính cơ thể chúng ta, nhưng cái mất mát thật sự, nhói vào tim, là việc thất thủ Huế. Nhìn lại Huế, không phải là “ Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo “ như bà Huyện Thanh Quan nhìn lại Thăng Long, nhưng là một sự tan vỡ, một sự mất mát không có gì đền bù lại được, một nỗi buồn phủ lên lòng chúng ta từ đó.

         Thú thật, từ nhỏ tôi có một ước mong tha thiết là dân chúng được hưởng một nền dân chủ chân chính, do đó chẳng mấy thích thú chế độ quan liêu. Nhưng tháng 8 năm 1945, đứng dựa vào lan can ven hồ sen trước Ngọ Môn, nhìn vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận...bỗng thấy não nề. Linh tính báo cho biết những ngày hết sức u tối sẽ đến với đất nước. Rồi khủng bố trắng, khủng bố đỏ của năm 1945 còn lại và sau đó. Rôi chiến tranh, rồi Tây trở lại, rồi Mỹ qua, rồi Mậu Thân, rồi 75...Biết bao nhiêu đau khổ đổ vào đầu người Huế mình, Huế luôn luôn chịu đòn hằn sâu sắc hơn ai. Và hiện nay, dân “ Huế mình “ sống ra sao ? – Dù luôn luôn ở trong một tâm lý bị cưỡng chế, ưu uất và mất mát ( anxious and frustrated ), nhưng Huế bao giờ cũng vững vàng như cành “ Mai “ trước gió kiên gan như hòn “ Thạch “ với tháng năm.” Tĩnh tọa “ trước những đổi thay, để bền bỉ tranh đấu, xây dựng và phát triển những giá trị tốt đẹp đã bị cướp mất đi. Tâm tình của Huế mình là thế đó, “ trầm tĩnh và cương nghị “.

          Cũng vì tâm tình ấy cho nên xa Huế muôn ngàn  vạn dặm, dù ở nơi đău người Huế cũng nhớ đến Huế tha thiết. Những lớp trẻ tha hương , dù chưa biết đến Huế  nhiều, có khi chưa thấy Huế nữa, nhưng nghe nói mình là gốc Huế, vẫn thấy tự hào và nhớ nhung tới Huế, chứ đâu phải là hàng “ thất thập cổ lai “ đường chiều xế bóng như chúng tôi.

          Huế mến yêu ! Nhớ Huế, không phải là nhớ tới một thời vàng son đã qua, nhớ nơi đã chứng kiến mối tình thơ ngây ban đầu, nhớ tuổi trẻ đã trôi chảy, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có làng Dưỡng Mông thân yêu bé nhỏ của tôi. Nhớ tới Huế như nhớ nỗi niềm chung của đất nước. Trong một thời gian khá dài Huế tượng trưng cho đất nước, đã chịu những đòn hằn đau đớn nhất trong lịch sử. Xin nhớ đến Huế và cảm ơn Huế đã tạo cho chúng ta một cá tính làm giàu đẹp thêm cho dòng Việt.  

KimLuon thieu nu hue va mua xuan17

Nguyễn Đăng Ngọc – Hoàng Các
San Diego – Mùa Đông 93

      

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active

 SongCamLeDaNang

Xứ Quảng Đà là một vùng đất quê hương đã để lại trong tôi  nhiều kỷ niệm buồn vui, cho dù thời gian tôi ra chơi ở Đà Nẵng chỉ vỏn vẹn có 15 ngày. Thời gian thiệt quá ngắn ngủi để đi sâu vào đất nước và con người Đà Nẵng nói riêng và xứ Quảng Đà nói chung . Tôi muốn ghi lại nơi đây những hình ảnh còn ghi đậm trong tôi , dưới ánh mắt của một cô bé ngày ấy chỉ vừa tròn 13 tuổi đời về miền non nước thơ mộng , huyền bí và hữu tình này.

Tôi biết Đà Nẵng vào mùa Xuân 1975, lúc ấy ba tôi được lệnh dời Tiểu đoàn Quân Y Dù từ căn cứ Shally Phú Bài, về đóng quân lập bệnh viện dã chiến ở căn cứ Phi trường Non Nước. Tôi biết Đà Nẵng trong những ngày  cuộc chiến trở nên ác liệt ...” Tết năm đó cô bé ăn Tết ngoài hành quân với ba cô bé ở tận Đà Nẵng. Cô bé đã chứng kiến ngày mùng hai Tết, từng đợt trực thăng đổ xuống đem thương binh về. Cha cô bé đã giải phẩu không nghỉ từ sáng tới tối. Cô bé không còn nhìn cuộc đời qua cặp kiếng màu hồng nữa khi chính cô bé đã nhìn thấy tận mắt mình những vết thương tàn khốc của chiến tranh . Mỗi chiều về, cô bé lặng nhìn những đoàn xe chở những cây “ tré người “ từ trận tuyến về. Gọi là “ tré “ vì xác người lính  tử trận được gói trong một mãnh poncho. Đầu và chân được cột như những chiếc tré của người dân Huế. Cô bé bỗng trở nên trầm lặng hơn . Tiếng đạn pháo nghe mỗi lúc một gần ...” ( Trích “ Ngày ấy quen nhau “ – Tiểu Vũ Vi  ).

Những ngày tháng của mùa xuân năm đó tôi không thể nào quên. Tôi còn nhớ, chiều ngày mùng hai Tết, tôi thiệt buồn lắm và rất sợ khi nghe ba tôi giải thích về những cây “ tré “ người. Một cô bé đã từng yêu Huế từ mấy năm nay, và nhất là rất thích ăn các món đặc sản của Huế như các loại bánh Huế và tré. Ừ, làm sao có thể chấp nhận sự thật phủ phàng ấy...và tôi đã khóc bỏ chạy ra bãi biển Non Nước. Chiều hôm đó, là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mặt trời lặn xuống biển , và cũng là lần đầu tiên tôi cảm nhận thế nào mà người ta gọi là hoàng hôn tím , hay chân trời tím . Những gì tôi thấy trước mắt thật đẹp lắm, không thể nào bằng văn bút mà diễn tả nổi . Đà Nẵng là thành phố cảng từ xưa vẫn nổi tiếng về những bãi biển đẹp như Tiên Sa, Mỹ Khê, Thanh Bình, Non Nước...Bờ biển Đà Nẵng uốn cong đẹp như eo người thiếu nữ Việt Nam, duyên dáng trong vạt áo cát trắng tơ mịn màng

Từ Ngũ Hành Sơn ta nhìn về Đà Nẵng

Phố xá như là phố Trân Châu

Dải lụa trắng men theo bờ cát lặng

Bãi Tiên Sa ngơ ngẩn ngọn Sơn Trà

( “ Một chút tình cho Đà Nẵng “ – Lưu Nguyễn )

Nhưng đối vớ tôi bãi biển Non Nước là nên thơ nhất . Đứng trên bãi Non Nước, nhìn thẳng đàng trước là màu xanh mênh mông thăm thẳm của biển, còn nhìn về bên trái là màu xanh lá cây đậm của dãy núi Sơn Trà mà trên đỉnh núi lại giắt ngang một vành lụa mây trắng mỹ miều . Xéo bên tay phải có năm ngọn núi đá đứng ngạo nghễ giữa trời mây đó là Ngũ Hành Sơn . Nếu bảo tôi phải diễn tả màu sắc của Ngũ Hành Sơn như thế nào thì thật là rất khó vì màu núi thay đổi theo thời gian trong ngày, có khi thì màu xanh ngọc bích , rồi màu xanh rêu, màu xanh ngả xám  hay có khi màu đen  trong những ngày không có nắng ...Và khi mặt trời lặn, màu cam ửng hồng dần rơi , nơi chân trời một màu tím loang dần trên mặt biển tạo nên một vòng ngũ sắc thật huyền diệu. Buổi chiều mùng hai Tết năm ấy , trước mặt tôi là một bức tranh thiên nhiên diễm tình đã cho tôi một cảm gíac bình yên , đã khắc sâu trong tâm khảm  một cô bé vừa tròn tuổi ô mai , và đã theo tôi suốt 32 năm dài ...

Hỡi chồi đá Ngũ Hành Sơn cổ kính

Hỡi dọi cát dài Mỹ Thị lê thê

Mây phủ ngọn Sơn Chà kia có lẽ

Đã bay mù theo gió biển Mỹ Khê

( “ Núi sông Đà Nẵng “ – Luân Hoán )

Những ngày tháng tôi ở Đà Nẵng, tôi được các chú trong tiểu đoàn sau những giờ trực đưa tôi đi chơi thăm phố cảng. Tôi thích nhất là thả bộ dọc theo con đường Thống Nhất đi từ bờ sông ngang qua trường Nữ trung học khi chiều tan trường, với những tà áo dài trắng thướt tha...Cũng với những mái tóc thề xoả vai như ngày xưa mỗi lần ra Huế tôi vẫn thường vào “...những buổi trưa hè oi ả của ngọn gió Hạ Lào, ngồi trong xe jeep của tiểu đoàn , tôi đã lặng nhìn say sưa những tà áo tím duyên dáng Đồng Khánh , che nghiêng vành nón, suối tóc thề xỏa vai dịu dàng thướt tha bước khoan thai trên cầu Tràng Tiền ...( Trích “ Huế, thi ca và tôi “-Bích Phượng).

Em Huế dịu dàng trong thơ Nguyễn Bính

Suối tóc mượt mà như nước dòng Hương

Một tiếng “ dạ...thưa “ chân tôi luýnh quýnh

Nhịp guốc qua cầu trăm nhớ ngàn thương

( “ Theo em qua cầu Tràng Tiền “ – Tiểu Vũ Vi )

Nhà thơ Vương Ngọc Long đã có một thời ngất ngây trước vẻ đẹp duyên dáng kiêu sa của người con gái Huế với mái tóc thề buông dài xỏa kín bờ vai :

Mái tóc thề xỏa trên bờ vai

Cho tôi nhung nhớ tháng năm dài

Nón lá nghiêng che đôi mắt ngọc

Cho tôi thờ thẩn mộng thiên thu

(  Vương Ngọc Long – “ Huế ngọc “ )

thì nhà thơ Luân Hoán lại ngẩn ngơ trước nét yêu kiều hoa mộng của các cô nữ sinh Đà Nẵng :

“Mười sáu tuổi em tập làm thiếu nữ

vai tóc thề aó lụa trắng bay bay

quai nón đỏ ngậm hờ vành môi ướt

vuông khăn thêu kín đáo xếp trong tay ...”

Theo tôi nghĩ thì cái đẹp giữa người con gái Huế và người thiếu nữ Đà Nẵng có thể so sánh như hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân mà nhà thơ Nguyễn Du đã dùng bút phát họa như sau :

Mai cốt cách , tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười “

Khi tôi đến thì Đà Nẵng đang khóac áo mùa Xuân. Mấy chú kể tôi nghe mỗi khi hè về hai bên đường Bạch Đằng và Độc Lập , những tàng phượng nở rộ những chùm hoa đỏ thắm , rất lộng lẫy. Gió thổi cho cánh phượng bay rơi trên ghế đá ven sông ...Giờ ở nơi xứ người xa xôi . tôi cũng thường hay ngồi trên chiếc ghế đá dọc bờ sông, nhắm mắt lại và tưởng tượng mùa hè đang về với những nuối tiếc nhớ nhung

Cánh phượng buồn như đong đầy kỷ niệm

Của một thời áo trắng đẹp ngây thơ

Em còn về sân trường xưa chờ đợi

Anh tình yêu ngày mới lớn dại khờ

 

Con ve sầu chiều nay vang tiếng hát

Bài tạ từ trên cánh phượng nở hoa

Màu phượng trôi chập chùng vùng kỷ niệm

Bóng em đâu sao mắt thấy nhạt nhoà

(“ Vaò Hè ” – Khiếu Long )

để bỗng chợt thấy thèm đi lại trên lối phượng xưa ngày nào

Cơn mưa hạ nhẹ lay vòm lá biếc

Tiếng ve kêu rả rích khúc tự tình

Giữa sân trường phượng thơm hương ngào ngạt

Đốt tim sầu thương niềm nhớ linh đinh

( “ Lối phượng xưa “ – Tiểu Vũ Vi )

và được ngồi lại trên chiếc ghế đá nhìn ngắm chiều buông trên sông Hàn .

Sông Hàn tuy không thơ mộng trữ tình trầm mặc như dòng Hương Giang với những đêm trăng tình tự , với những chiếc đò ngược xuôi chuyên chở những cung điệu Nam Ai, Nam Bình não nề ai oán nặng tình yêu thương non nước :

“ Dòng Hương duyên dáng lung linh

Như O con gái tự tình đêm trăng

Mơ màng sương khói mây giăng

Tóc thề buông xõa đón vầng bán cung

Phiếm đàn gieo khúc não nùng

Rối lòng lữ khách muôn trùng vấn vương “

( ” Hương Giang dạ khúc “ – Tiểu Vũ Vi )

nhưng cũng đã đem đến nhiều nguồn mỹ cảm sáng tác cho nhiều nhà thơ gốc Quảng . Mối tình giữa người con đất Quảng với dòng sông cuộn sóng phù sa này rất nhẹ nhàng, êm đềm nhưng cũng không kém phần tha thiết :

“ Chiều viễn xứ ta mơ về Đà Nẵng

Có sông Hàn cuồn cuộn phù sa

Nước mắm Nam Ô đượm tình sâu nghĩa nặng

Mì Túy Loan thơm ngát quê nhà “

( “ Một chút tình cho Đà Nẵng “ – Lưu Nguyễn )

Mô tả về địa danh này, nhà thơ Việt Hải gói ghém cả một vùng trời địa dư gồm những thắng cảnh Đà Nẵng mà những ai yêu mến nơi đây sẽ cảm nhận tình hoài hương đất nước :

“ Khúc khuỷu Hải Vân đèo ngăn cách

Dặm đường Non Nước còn bao xa

Ngũ Hành Sơn hữu tình gợi cảnh

Phố cổ Hội An thoáng nhớ nhà

Lấp lánh Thu Bồn ngàn ánh bạc

Bãi Nam Ô hồn mãi trong ta “

(  “ Về Đà Nẵng “ – Việt Hải )

Mùa Xuân năm đó tôi được đi viếng thăm phố cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm về phía Nam Đà Nẵng khoảng 30 cây số, bên dòng sông Thu Bồn, quanh năm nước chảy lững lờ trong veo và xanh biếc. Cảnh sắc và kiến trúc nghệ thuật ở Hội An thật đặc biệt, vừa cổ kính vừa huyền bí. Khi tôi nhìn lên bờ sông Hội An , những mái ngói phủ rêu xanh và nét chạm trổ tinh vi cầu kỳ trong những căn nhà được xây bằng gỗ quý đã tồn tại từ hơn ba trăm năm nay, tôi cảm thấy mình như đi lạc vào một thế giới không gian nào khác. Có lẽ vì nơi đây, ngày xưa là tụ điểm giao thoa cho nhiều dòng văn hóa Á, Âu, Chiêm, Việt, Nhật, Trung Hoa và Pháp đã tạo cho phố Hội cổ kính mang một sắc thái riêng biệt, có một không hai. Ở đây, tôi cũng được dịp thưởng thức thủ công tinh xảo của những chiếc đèn lồng xinh xắn...và hương vị độc đáo của mì Quảng Cao Lầu mà nhà văn Việt Hải trong “ Hội An bến mơ “ đã diễn tả như sau :

“ Hội An nói riêng hay Xứ Quảng nói chung còn có vô số món. Nhưng tiêu biểu qua món mì cao lầu không thôi đã cho ta thấy cả nét đặc sắc như cọng mì phải dòn, rồi nào là lát thịt săn mỏng da, nào hương vị tép mỡ, rau thơm, và nào là nước lèo có hương thơm của chất thịt. Tất cả các yếu tố được gọi là mì Cao lầu sẽ làm cho khách thưởng ngoạn đê mê vị giác và ghiền mãi món ngon quê hương Hội An ...”

Tuy chỉ một ngày ở Hoài phố cũng đủ để tôi khi ra đi chợt thấy quyến luyến. Có lẽ vì thành phố cổ này có sức thu hút đặc biệt đã để lại trong lòng những người con du tử như nhà thơ và văn Trần Trung Đạo biết bao là kỷ niệm khó quên ...” những người con gái của quê hương tôi cũng đẹp hơn con gái của bất cứ một nơi nào mà tôi đã đi qua. Đồng bào tôi sống bằng nghề dệt vải, dệt lụa nên đàn ông con trai thì thường mặc áo quần may bằng vải, goị là vải nội hóa hay vải ta, và đàn bà con gái thì mặc áo quần may bằng lụa. Một lần ở trường Trần Quý Cáp Hội An , bọn chúng tôi trai gái cùng đi học về thì chẳng may trời đổ mưa như tát nước. Chiếc áo dài bằng lụa mỏng đã vô tình đồng lõa một cách tội lỗi với cơn mưa để phơi bày thân thể của cô bạn học. Hình ảnh dễ thương tuyệt vời đó đã đọng lại trong thơ tôi :

“ Em về phố cũ chiều mưa lớn

Vóc ngọc ngà phơi dưới lụa hồng

Ta như giọt nước mùa mưa ấy

Đã cuốn trôi về trăm nhánh sông ...”

(“ Mưa Phố Hội “- Thơ Trần trung Đạo  )

Ra Tết, chỉ còn vài ngày nữa là tôi trở về Sài Gòn. Ba tôi thấy tôi cứ buồn nên đã cho mấy chú đưa tôi về thăm Huế một ngày. Tôi thiệt rất vui và thầm cảm ơn ba tôi lúc nào cũng yêu thương , chìu chuộng và hiểu con gái mình. Chặng đường đi từ Đà Nẵng ra Huế đã để lại trong tôi mãi mãi một hình ảnh trời mây non nước vừa hùng vĩ vừa lãng mạng nên thơ đến tuyệt vời, vì tôi đã được đi qua đèo Hải Vân nối liền ranh giới tỉnh Thừa Thiên – Huế và tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng . Tôi còn nhớ chú dược sĩ Chí , người được ba tôi giao trách nhiệm đưa tôi đi thăm Huế, đã giải thích cho tôi rằng , đèo được mang tên Hải Vân vì nằm trên núi Hải Vân , mà đặc điểm của dãy núi này là, chân ngâm dưới nước biển xanh và ngọn lẫn trong làn mây trắng , vì thế mà núi có tên là Hải Vân.

Đường đèo khi đi lên tới ngọn rất hiểm trở quanh co, uốn lượn trong mây và dày đặc sương mù. Nhìn bên kia dốc đèo, vực sâu thăm thẳm, có những đám mây ngũ sắc bay lơ lững từ trên trời tuông xuống . Tiếng gió thổi xô vào hàng bạch đàn như tiếng vó câu của đàn ngựa . Gió đùa trên dòng tóc tôi bay. Xa xa, màu xanh thiên thanh của sóng đại dương vỗ vào chân núi, gió đưa mây trắng lướt theo làn sóng bạc nhấp nhô...càng làm nổi bật nét đẹp kỳ diệu và hoành tráng của Hải Vân :

“ Chiều chiều mây phủ Hải Vân

Súng rền Non Nước bâng khuâng dạ người “

( ca dao )

Có những đoạn đường đèo eo hẹp bên dốc núi đá lấm tấm một loài hoa dây leo dài, màu trắng xanh pha tím nhạt mà chú Chí của tôi gọi là hoa Cát Đằng. Chú bảo tôi hoa này tuy chỉ là một loài hoa dại nhưng có thể ví như một loài tuyết mai vì cốt cách và tính kiên cường bền bỉ của nó trước cái nghiệt ngã của môi trường gió lạnh, ẩm sương quanh năm ...Chưa bao giờ tôi lại thấy lòng mình rung động ngây ngất đê mê trước vẻ đẹp của gió, trời mây, sóng nước như thế này. Thật như là một bức tranh thủy mạc được ngọn bút thiên nhiên tô điểm đến diễm lệ như gấm bạc tơ trời...Ngày hôm ấy đối với tôi thiệt khó quên, vì sau lần đó tôi chưa một lần về thăm lại Huế dấu yêu của tôi.

Trước ngày tôi rời Đà Nẵng, ba tôi đã dẫn cả nhà tôi đi chơi ở Ngũ Hành Sơn . Sau hơn mười mấy ngày ba tôi bận bịu với các thương bệnh binh của mình, rốt cuộc mấy chị em tôi cũng có được một ngày ba là của riêng chúng tôi. Ngũ Hành Sơn cách xa Đà Nẵng khoảng 7 km về hướng đông nam, trên một bãi cát mênh mông gần bờ biển. Ngũ Hành Sơn gồm 5 hòn: hòn Kim, hòn Mộc, hòn Thuỷ, hòn Hoả, hòn Thổ, có lẽ vì chịu ảnh hưởng của tư duy triết học của Trung Hoa mà những ngọn núi này được đặt tên theo những yếu tố cấu thành vũ trụ. Ngũ Hành Sơn là một địa linh phong cảnh hữu tình quyến rũ, cảnh trí thiên nhiên kỳ lạ với nhiều hang động thạch nhũ và chùa chiền. Có những ngôi chùa rất đẹp như chùa Non Nước, chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng...Tôi còn nhớ trên hòn Thủy, đã phải trèo lên 108 bực thang để có thể đứng từ Vọng Giang Đài ngó về Đà Nẵng . Đến ngoạn cảnh Ngũ Hành Sơn, tôi thấy mình như lạc vào bồng lai tiên cảnh .

“ Vọng Hải Đài vui hứng gió nhơn

Thân cuộc trần ai rủ sạch

Văn Thông động mặc dù nhẹ tách

Lạch Đào Nguyên thắng cảnh nào hơn “

Tuy lúc đó tuổi tôi còn nhỏ nhưng Ngũ Hành Sơn đã cho tôi một cảm giác thật yên bình giữa mùa chiến lọan. Nhất là khi đi trên những con đường lá mục dẫn vào các hang động thật rất nên thơ :

“Nước non chừ đã mù sương

Lưng chừng dốc núi con đường quanh co ”

( “ Lá Mục “- Tôn Thất Phú Sĩ )

để rồi đến khi đứng giữa Huyền Không Động, tôi đã lặng nhìn đến si mê kiệt tác của thiên nhiên mưa và gió...Gió mưa như cặp tình nhân say điệu luân vũ xoáy mòn sâu vào trong núi đá điêu khắc nên những giọt sương trời lung linh ánh màu. Một luồng sáng rơi nhẹ từ tinh không , tiếng tí tách âm vang như những cung nhạc trầm bổng, càng làm tăng thêm vẻ đẹp huyền ảo của Huyền Không Động . Nhà thơ Thái Tú Hạp đã dùng thi bút để họa nên những bức tranh Huyền Không Động với một vẻ đẹp hài hoà :

“...Trăng biếc nghìn khuya hồn cổ tự

Lối đi về quạnh quẽ khói sương

Lên cao đá tảng rừng cây dựng

Hơi thở phù vân đau cố hương

 

Trang Kinh giở mãi đều vô sắc

Đá núi trầm ngâm chuyện thế nhân

Hạt cát bên bờ hằng sa mộng

Vô lượng triều dâng sóng bạt ngàn

( “ Huyền Không Động “- Thái Tú Hạp )

Ngày hôm sau , chiếc phi cơ quân sự C 130 chở mẹ con chúng tôi về lại Sài Gòn cùng với những xác người lính tử trận không còn bọc sơ sài trong chiếc poncho như những đòn “ tré “ Huế nữa , mà được tẩm liệm trong những quan tài phủ màu lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu...Không hiểu tại sao tôi không còn thấy sợ hãi nữa. Nhìn qua khung cửa nhỏ của phi cơ, tôi vẩy tay giã từ Quảng Đà, một vùng đất quê hương đã cho tôi nhiều kỷ niệm thân thương . Để giờ đây, sau ba mươi hai năm dài, lòng tôi vẫn còn thấy nhung nhớ miên man tình hoài niệm và thầm mong một ngày về ...

“ Đất nước, ngày mai em trở lại

Với luồng gió mới ngược Trường Sơn

Mang màu nắng ấm xuôi thành phố

Sưởi ấm bao lòng đang héo hon

( “ Vang bóng cờ bay “ – Nhược Thu )

Bích Phượng

Viết tại Paris , mùa hè 2007

 

( ĐS Kỷ niệm 55 năm thành lập Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Hải ngoại  2007 ) 

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive

Tiền và Thân Phận Làm Người Trong Văn Chương Việt Nam Thế Kỷ 19

Tạo vật bất thị vô để sự

Bòn chài ra một thứ quấy chơi

 Nguyễn Công Trứ


LavareR

Tiền là một thế lực kinh tế, cũng còn là một nguồn văn và  thi liệu cho văn chương. Tuy nhiên, khác với những đề tài như tình yêu , vẻ đẹp thiên nhiên, chiến công oanh liệt ...lúc nào cũng gây cảm hứng cho văn nhân thi sĩ , tiền chỉ xuất hiện và được nhắc nhở tới trong văn chương ở vào một giai đoạn lịch sử nào đó.

Trong xã hội Tây phương ngày trước , tầng lớp lãnh đạo, các chiến sĩ quý tộc ( bellatores ), chịu ảnh hưởng của triết học Hy Lạp và tôn giáo Gia - tô, coi của cải ở cuộc đời tạm bợ này như phù vân ( vanitas vanitatum, et omnia vanitas ) , nên tiền chẳng được nhắc nhở trong văn chương . Mãi đến về sau , khi có một sự thay đổi lớn lao trong cơ cấu xã hội , tiền mới được đề cập tới .

Lấy văn học Pháp làm tỉ dụ , chúng ta sẽ thấy tiền hay tư lợi không bao giờ là một đề tài chính trong những tác phẩm cổ điển . Những anh hùng trong các bi kịch của Corneille , mô tả bản chất con người qua những mối tình say đắm  đến mù quáng . Tiền tuy có xuất hiện ở một số hài kịch của Molière như “ Người biển lận “ ( L’Avare ), “ Kẻ trưởng giả học làm sang “ ( Le Bourgeois Gentil-Homme ) , nhưng hài kịch không phải là một thể loại nghiêm chỉnh ( genre sérieux ). Hơn nữa thái độ biển lận, keo kiệt qúa độ của Harpagon , hay hợm hĩnh vì tiền của ông Jourdain chỉ là những thói tật cá nhân ,hạ tiện , đối lập với tính cách quý tộc .

Qua thế kỷ 18 , tầng lớp “ petit-bourgeois “  ( tiểu tư sản ) phát triển ,” tiền “ được nói đến nhiều hơn vì đã có ảnh hưởng quyết định trong tương quan xã hội. Trong vở kịch “ Turcaret “ ( tên một thương gia giảo quyệt ) , Lesage ( tác giả ) cho thấy vì tiền mà con người thành ra xấu xa . Tất cả các nhân vật trong vở kịch , từ kẻ quý tộc cho đến nhà buôn, chí đến đứa ở đều lừa đảo nhau vì tiền , và kẻ có tiền là người ngự trị . “ Voilà le règne de M. Turcaret fini ; le mien va commencer “  ( Thời đại Turcaret qua rồi ; thời của tớ sắp bắt đầu ) , đó là lời tuyên bố của Frontin , một tên đầy tớ trở nên giàu có , nhờ những mánh khóe gian xảo và lừa bịp. Trong vở “ Les Fausses Confidences “ của Marivaux , vấn đề tiền đặt ra nhẹ nhàng hơn , nhưng chính sự chênh lệch về tiền là đầu mối trở ngại  cho mội tình giữa  chàng Dorante trẻ đẹp , nhưng lỡ vận , và nàng Araminte , goá phụ giàu sang và kiều diễm , dù cả hai thầm kín yêu nhau.

Le Bourgeois Gentil Homme

Kíp đến thế kỷ 19 , tiền trở thành một đề tài lớn . Victor Hugo đã đề cập đến tiền trong nhiều tác phẩm của mình .Đặc biệt vào cuối thế kỷ tiền là luận đề chính cho bộ tiểu thuyết hiện thực nhiều tập về gia đình Rougon Macquart của Émile Zola : L’Argent, La Curée...

Ở Á Châu , tại các nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo  , như nước ta , xã hội chia ra bốn giai cấp là sĩ , nông , công , thương . Kẻ sĩ , đứng đầu, tuy có một tinh thần khác với quý tộc Tây phương , nhưng nói chung , cũng coi thường giá trị tiền, đặt đạo đức lên trên tư lợi . Lời Mạnh Tử đáp lại Lương Huệ Vương là một khuôn vàng thước ngọc cho nhà nho : “ Vương hà tất viết lợi ; diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hỉ ? “ Vua nói chi đến điều lợi , xin chỉ nói chuyện nhân nghĩa  ) . “ Thúc Hướng hạ Tuyên tử “ là một câu chuyện khác tượng trưng  thái độ nhà Nho đối với tiền hay phú quý . Tuyên Tử than nghèo , nhưng Thức Hướng lại mừng cho Tuyên Tử  ( Tuyên Tử ưu bần , Thúc hướng hạ chi ) . Và sau những lời trình bày chí nhân chí nghĩa của Thúc Hưởng , Tuyên Tử  đã cúi đầu cảm ơn Thúc hưởng giúp mình giữ được cảng nghèo trong sạch , đạo đức : “ Khởi dã tương vong , lại tử tồn chi “  ( Khởi này sắp suy sụp , nhờ bác giữ lại ).

Theo đạo lý Khổng Mạnh xưa , không có gì quý hơn là biết vui sướng trong cảnh nghèo trong sạch . Quan niệm đạo đức ấy đã chi phối mạnh mẽ nền văn chương của chúng ta . Và vào thời trước , văn chương chỉ là một hình thức để phát huy đạo đức  ( Văn dĩ tải đạo ) , nên suốt từ lúc mới thành hình cho đến đầu thế kỷ 19 ,thật khó tìm thấy trong văn học Việt một bài thơ hay bài phú than thở vì nghèo , nói chi đến việc đề cao tiền.

Đồng tiền xem ra thật hiền hoà trong thi ca của Nguyễn Trãi . Tiền chỉ là một phương tiện để tương thân tương ái , đùm bọc lấy nhau trong lúc hoạn nạn :

Đồng tiền , bát gạo mang ra ,

Gọi là cần kiệm chút là làm duyên .

()

 Nguyễn Bỉnh Khiêm ở vào một thời đại phức tạp hơn , nhận rõ nhân tình thế thái , nên đã đề cập đến tiền trong những khía cạnh xấu xa . Tiền thay đổi lòng người :

Còn tiền còn bạc còn đệ tử

Hết cơm hết rượu hết ông tôi

Nhưng trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm , tiền vẫn chưa phải là một thế lực độc ác ghê gớm , đè bẹp giá trị con người . Tiền có thể thay đổi lòng người , nhưng giàu , nghèo không khác nhau, con người có thể sống nhàn hạ mà tiền chẳng có ảnh hưởng gì đến :

Giàu ba bữa , khó ba niêu,

Yên phận thì hơn hết mọi điều

Khát uống chè mai hơi ngọt ngọt

Sốt kề hiên nguyệt gió hiu hiu .

Cuộc sống vẫn hiền hòa , nghèo khó càng làm rạng rỡ thêm đạo đức :

Khó khăn mới biết người quân tử

Ngheò hiểm thì hay tiết trượng phu

Ngay trong những tác phẩm có tính cách đại chúng , những nhân vật chính , cũng thường là những kẻ “ áo rách khố ôm “  như Thạch Sanh, Trần Miên khố chuối, Phạm Công , Phạm Tải...Tuy nghèo đến rớt mồng tơi nhưng chẳng có một ai tham tiền . Tiền không bao giờ làm cho họ băn khoăn, thắc mắc, và cũng không bao giờ vì tiền mà hành động trái nhân nghĩa .

Tuy nhiên đã có một sự thay đổi , có thể nói là đột ngột và lớn lao từ buổi giao thời của hai thế kỷ 18 và 19 cho đến lúc tàn cuộc nền văn chương chữ Nôm . Đồng tiền từ bấy giờ đã trở thành một đề tài quan trọng , xuất hiện trong văn học  như một thế lực mạnh mẽ khác thường , gây ra nhiều biến động tinh quái và tàn ác trong xã hội. Con người dù muốn yên cũng không yên được trước thế lực của tiền .

Nếu lấy truyện  Kiều làm cái mốc cho thời giao nhau cuả hai thế kỷ , thì chính Kiều đã mở đầu cho đề tài tiền trong văn học Việt nam . Xét theo những phương tiện căn bản trong nội dung , có thể gọi Kiều là một câu chuyện tình bi đát , là thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến , là câu chuyện của một tiếng đàn , vì chuyện kết thúc thì đàn cũng được cuốn dây :

Một phen tri kỷ củng nhau

Cuốn dây từ đấy , về sau cũng chừa

Cũng có thể gọi là chuyện tài mệnh tương đố , “ nhất phiến tài tình thiên cổ lụy “ hay chuyện túc trái tiền duyên :

Đoạn trường sổ , rú tên ra

Đoạn trường thơ ,phải đưa mà trả nhau

Có thể kể thêm nhiều khía cạnh khác nữa , nhưng có một khía cạnh chủ yếu , ít khi , hoặc chưa được đề cập đến , ấy là tiền . Lý do không được chú ý tới có lẽ vì tiền có tính cách quá thực tế, trái với tính chất đầy thơ mộng ,đầy tình cảm tế nhị của áng văn mà Mộng Liên Đường chủ nhân gọi là “ máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy .”

Nhưng nếu xét trên khía cạnh tiền , thì có thể xác định Kiều là chuyện của đồng tiền ; nói khác đi , cuộc đời đau khổ của Kiều ,hay thân phận của của con người nói chung , chìm nổi theo thế lực của tiền .

Vương Viên ngoại không giàu , nhưng tương đối cũng có đôi chút tiền của “ thường thường bậc trung “ , như Nguyễn Du đã nói :

Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung

Giả thiết Vương ông không ở vào “ bậc trung “ , thì chắc thằng bán tơ kia đã không “ dở dói “ , mà sai nha cũng chẳng ập vào nhà để “ vét cho đầy túi tham “rồi sau đó  “làm cho khốc hại “ . Giả thiết nữa là nếu gia đình Kiều có được ba trăm lạng , cất dấu đâu đó , thì cuộc đời của Kiều đã đổi khác , Kiều đã không bán mình để chịu mười lăm năm lưu lạc :

Tính bài lót đó, luồn đây

Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.

Và thật vậy , Nguyễn Du đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại thế lực yêu quái của tiền . Tiền xóa mờ hết đạo nghĩa , công lý chỉ dựa vào tiền  :

Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong !

Nói thế hình như chưa đủ , Nguyễn Du đã lập lại cùng một ý ở đoạn ngay sau đó  :

Trong tay đã sẵn đồng tiền

Dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì !

Khi đã có tiền thì Vương ông không những được “ tại ngoại hầu tra “ ( tạm lĩnh Vương ông về nhà ) , mà việc “ tụng kỳ “ cũng chấm dứt nhanh chóng :

Lễ tâm đã đặt , tụng kỳ cũng xong  .

Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam , tiền được nhắc nhở về nhiều mặt và đã quyết định cái hình thái của xã hội như trong Đoạn Trường Tân Thanh . Tiền đã đưa xã hội đến chỗ trụy lạc ,và hình thức tổ chức trụy lạc thật qui mô . Lâm Chuy cách Bắc Kinh đến một tháng đường dài  ( Lâm Chuy vừa một tháng tròn tới nơi                              ) , thế mà Kiều ở Bắc Kinh vừa lên tiếng bán mình , tin đã tới ngay Tú Bà ở Lâm Chuy . Mụ này sai Mã Giám Sinh , một tay ăn chơi về già và chính cũng là chồng của mụ ta , đến ngay Bắc Kinh để mua Kiều về . Vốn một tay ăn chơi sành sõi, quen chuyện lừa lọc bán phấn buôn son , chẳng có độ lượng nào trước nỗi đau của người khác , thế mà rút cuộc việc buôn bán cũng đã ngã giá rất cao :

Cò kè bớt một thêm hai ,

Giờ lâu ngã giá , vàng ngoải bốn trăm .

Lẽ tất nhiên ở đây chúng ta không nói đến giá trị của Kiều như một con người tài hoa . Dù mụ mối khéo mồm khéo mép đưa giá Kiều lên tới ngàn vàng , giá ấy cũng không tương xứng vì làm sao có thể đánh giá một người tài hoa ! Chỉ xét Kiều như một nạn nhân , một món hàng mà Tú Bà mua về cho thanh lâu , thì món hàng đó thật là đắt giá . Thử làm một bài tính để tính xem Tú Bà đã pahi tốn kém bao nhiêu để mua được Kiều , và cũng thử tính để suy ra vốn liếng của Tú Bà , chúng ta sẽ thấy tài sản của Tú Bà thật đồ sộ . Dù không so sánh được với nhữnh chủ nhân ở đô thị “ Những đồng bằng phì nhiêu “ ( Las Vegas ) tại U.S.A , nhưng cũng khá kếch sù ! Tú Bà có những tay đàn em đểu giả loại Sở Khanh , sẵn sàng thực hiện âm mưu của mụ theo những hình thức tinh vi và qui mô ,”  song song ngựa trước , ngựa sau một đàng “ ; có hàng chục hay hàng trăm  “ tiểu Kiều “ , dầu không đắt giá như Kiều nhưng chắc cũng chẳng rẻ . Lại còn có cả lầu Ngưng Bích để sẵn sàng  “ khóa buồng xuân  ...đợi ngày đào non “ cho những người muốn “ thác trong “ như Kiều .

Một tổ chức thanh lâu khác trong Đoạn Trường Tân Thanh là của Bạc Hà và bọn “ đồng môn “ ở Châu Thai . Tổ chức này , như Nguyễn Du mô tả , “ cũng phường bán thịt , cũng tay buôn người “ , qui mô chẳng kém gì tổ chức của Tú Bà . Và nên chú ý Lâm Chuy  ( Sơn Đông ) và Châu Thai ( Chiết Giang ) , nơi Tú Bà và Bạc Bà mở “ hành viện “ , chỉ là những địa phương xa xôi , nói gì đến những nơi thị tứ ! Lại suy theo cách ăn chơi của những khách du như Thúc Sinh :

“ Trăm nghìn đổ một trận cười như không “

thì Tú Bà kiếm vào chắc không ít . Bọn Bạc Bà , Bạc hạnh không phải quá đáng “ nhất bản vạn lợi “ như con buôn thường ước mơ nhưng cũng một vốn mười lời :

Xem người định giá , vừa rồi

Mối hàng một, đã ra mười , thì buông .

Thế lực của tiền ở Đoạn Trường Tân Thanh còn được phơi bày ra trong hình thức đồng tình kết hợp của hai tầng lớp thương nhân và phong kiến .

Bản thân Thúc Sinh là một tiêu biểu cho sự kết hợp đó . Thúc Sinh không những là một thương nhân giàu có , lại thuộc về giòng dõi quý phái :

Khách du bỗng có một người ,

Kỳ Tâm họ Thúc ,vốn nòi thư hương .

Vốn người huyện Tích , châu Thường ,

Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Chuy .

Cuộc hôn phối giữa Thúc Sinh và Hoạn Thư , con quan Chủng tể  ( Tể tướng ) lại  càng tiêu biểu hơn . Ngày trước gia đình bên vợ và bên chồng phải là môn đăng hộ đối , nghĩa là không những giàu có tương đương , mà giáo dục và gia phong cũng giống nhau .

Có tiền và có quyền , Thúc Sinh hành động liều lĩnh , đem Kiều giấu diếm một nơi , bất chấp nghề ngón của Tú Bà :

Mượn điều trúc viện thừa lương ,

Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi .

Rôi sau đó lấy tiền và thế lực để chính thức chiếm đoạt Kiều từ tay Tú Bà  :

Rõ ràng của dẫn , tay trao ,

Hoàn lương một thiếp , thân vào cửa công .

Cũng vì giàu và quyền thế nên Hoạn Bà và Hoạn Thư đã có “ lũ côn quang “ , có “ gia pháp nhà tao “ , coi giá trị con người chẳng hơn “ con ong cái kiến “ , vu vạ cho Kiều những tính nết xấu xa : “ mèo mả , gà đồng “, “ trốn chúa, lộn chồng “ , để rồi xóa mất đi “ căn cước “ ( identity ) của Kiều theo ý muốn . Đổ họ, đổi tên , làm mất dấu tích , thay thế “ thượng đế “ bản xứ bằng một “ thượng đế “ mới là điều mà bọn người áp bức , hay thực dân xâm lược thường làm đối với kẻ yếu hèn hay dân bị trị . Cho nên Hoạn Bà đã đổi tên Thuý Kiều :

Hoa nô truyền dạy đổi tên ,

Buồng the , dạy ép vào phiên thị tì .

Sau này Hoạn Thư cũng theo cách đó để “ thủ tiêu “ tình địch :

Aó xanh đổi lấy cà sa ,

Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền .

(  Xin phân biệt việc tự ý đổi tên và việc bị áp đặt một tên mới )

Tiền trong Đoạn Trường Tân Thanh có một sức phá hoại ghê gớm . Tiền lũng đoạn quan trường , và như đã nói bên trên , nếu Vương ông không có tiền thì thằng bán tơ đã không “ dở dói “ , sai nha chẳng ập vào nhà để “ vơ vét “ và Kiều đã sống một cuộc sống hạnh phúc .

Tiền cũng được dùng như một thủ đoạn chính trị , để thương lượng và mua cuộc . Hồ Tôn Hiến , một viên quan “ Kinh luân gồm tài “ đã dùng tiền bạc như một thứ vũ khí :

Đóng quân làm chước chiêu an ,

Ngọc ,vàng , gấm , vóc, sai quan thuyết hàng .

Lại riêng một lễ với nàng

Hai tên thể nữ , ngọc vàng nghìn cân .

Và thứ vũ khí tiền đó đã thành công . Từ Hải ra hàng vì nhniều lý do , trong đó , có lý do quan trọng là Kiều đã xiêu lòng trước tiền . Nguyễn Du xác nhận  :

Nàng thời thật dạ tin người ,

Lễ nhiều , nói ngọt nghe lời dễ xiêu .

Tiền còn được nhắc nhở tới nhiều lượt nữa , điển hình một vài trường hợp sau đây : Trước lúc trốn khỏi Quan Âm các ở nhà Hoạn Thư , Kiều nghĩ đến tiền để phòng thân :

Chỉ e quê khách một mình ,

Tay không chưa dễ tìm đường ấm no !

Nghĩ đi nghĩ lại quanh co ,

Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân .

Bên mình giắt để hộ thân ...

Kiều dấn bước vào cuộc đời luân lạc , lòng nặng những lo âu : không thanh thản , vô tư như những kẻ bần hàn ngày xưa . Phạm Công , Lý Công ..., dù thiếu thốn mọi bề , phải đi ăn mày để nuôi thân và để nuôi cả mẹ , nhưng luôn luôn tin tưởng , vẫn giữ vững được tinh thần để học hành và làm nên sự nghiệp .

Tiền là giải pháp cho mọi vấn đề , là phương tiện để trả ân trả nghĩa , là hình thức bày tỏ ý chí , tâm tình của mình . Kiều đã tạ lòng chàng Thúc bằng :

Gấm trăm cuốn , bạc nghìn cân .

Sư trưởng Giác Duyên cũng được thưởng tiền  :

Nghìn vàng gọi chút lễ thường .

Về sau này , lúc quyết tâm đi tìm Thuý Kiều , Kim Trọng cũng nghĩ đến tiền như một phương tiện cần thiết :

Bao nhiêu của , mấy ngày đàng ,

Còn tôi , tôi gặp mặt nàng mới thôi .

Qua rồi , ngày con người Việt hoàn toàn tin vào đạo đức nhân nghĩa , vui sướng trong thanh bần . Từ buổi giao thời hai thế kỷ  18 và 19 , con người bắt đầu tin và đã tin mạnh mẽ vào thế lực kim tiền .

Nhưng tin vào tiền : “ có tiền mua tiên cũng được “, không giống như tin vào Đức Phật cao siêu , Đức Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn , hay một đấng Thượng Đế toàn năng , có thể hổ trợ cho chúng ta chống lại moị cám dỗ cuả ma quỷ . Tin vào tiền có nghĩa là ý thức tiền là một thế lực lớn trong xã hội , thường thường có tính cách tiêu cực , quỷ quyệt , tinh ranh ,làm điên đảo cương thường , phá hoại đạo lý ..., để rồi người tin có lúc phải cảm thấy ray rức , chua xót ,ê chề , sỉ nhục vì tiền .

Mà thật vậy , chẳng mấy lâu sau Nguyễn Du , Nguyễn Công Trứ và Cao  Bá Quát, rồi Nguyễn Khuyến và Tú Xương ...đều có những câu đối , những bài thơ , bài phú than nghèo , vịnh nghèo , mỉa mai , nguyền rủa đồng tiền, vì tiền không những phá hoại những lớp người yếu đuối như Kiều , tiền còn phá hoại ngay cả đến các kẻ sĩ , các nhà nho .

Nguyễn Công Trứ  thường được xem như là nhà thơ ca tụng chí nam nhi và nhàn tản , nhưng một phần khá lớn thi phẩm của ông đã nói về cảnh nghèo , về tiền. Cứ lật bất cứ một cuốn sách giáo khoa nào của bậc trung học ở miền Nam Việt Nam trước 75 , đều có thể bắt gặp những bài thất ngôn nói về Cảnh nghèo , bài phú Hàn nho phong vị , bài ca trù về kim tiền . Bài “ Hàn nho phong vị phú “ là một bức tranh sinh động mô tả  cảnh cơ cực của một nhà nho cùng khổ và thái độ hợm hĩnh của bọn trọc phú :

 “Than thỉ to to nhỏ nhỏ , ta đã mỏi cẳng ngồi trì

Dần dà nọ nọ kia kia , nó những vuốt râu làm bộ “

Dù lời văn có tính cách châm biếm , cợt nhả ; dù viện dẫn những tích người xưa , chàng Khuông , chàng Vũ ...để giữ lòng bình tĩnh , dù cho rằng “ khó bởi tại trời, giàu là cái số “ , nhà thơ làng Uy Viễn vẫn không che dấu được nỗi chua chát của mình trước thế lực kim tiền . Cái phong vị của kẻ hàn nho chỉ là cái phong vị lẫn nhiều mùi xót xa , cay đắng . Đồng tiền trong thời Hồ Xuân Hương , trước Nguyễn Công Trứ không lâu , chỉ là “đồng tiền hoẻn “ , đến thời đại Nguyễn Công Trứ , “ cái vật tầm thường ấy “ đã trở thành một vị thần linh .

Khả quai tầm thường a đổ vật

Khước giao đáo để đại thần linh .

 ( Khá lạ cho vật tầm thường ấy , mà thành ra vị thần linh to )

“ Ai cũng kẻ vì người yêu “ , vị thần linh ấy lại có quyền năng phi thường . Tiền không những xếp đặt yên ổn chuyện vợ chồng trong gia đình , giúp  cho tài năng phát đạt ở đời này :

Đường om xòm chớp giật , sấm ran,

Nghe róc rách gió hoà mưa ngọt

Kẻ tài bộ đã vào phường vận đạt ,

Không ngươi cũng ải với cỏ cây ...

( Vịnh Kim Tiền )

lại còn có thể giải quyết được những chuyện ở thế giới vô hình  :

Tiếng xỏng xảnh đầy trong trời đất ,

Thần cũng thông huống nữa là ai .

( Vịnh Kim Tiền )

Một bài phú thường được đối chiếu với bài “ Hàn nho phong vị phú “ là bài “ Tài tử đa cùng phú “ của Cao Bá Quát. Lời văn tài tử , bóng bẩy thật xứng với danh thánh Quát , nhưng nội dung cũng đượm một nỗi niềm chua chát , buồn tủi , đậm đà hơn cả ở Nguyễn Công Trứ . Con người nghèo trong “ Hàn nho phong vị phú “ còn đứng ở bên rìa xã hội ( marginal ) , còn có thể  “mỏi cẳng ngồi chờ “ , đến “ Tài tử đa cùng phú “ thì đã mất hẳn chỗ đứng : “ Song nghĩ lại trần ai không đếch chỗ “. Cô đơn , trống trải , u buồn là số phận của kẻ không tiền :

Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướp tướp , ngày thê lương  , hạt nặng giọt mưa sa ;

Đèn cỏn con gom chiếc chiếu lôi thôi , đêm tịch mịch , soi chung vừng trăng tỏ “

Kết hợp những vế này trong bài phú với câu đối dán ở nhà dạy học mới cảm thấy cái cô độc , lẻ loi của kẻ nghèo :

“ Nhà trống ba gian , một thầy , một cô , một chó cái ;

Học trò dăm đứa , nửa người , nửa ngợm , nửa đười ươi .”

Tiền đã xua đuổi con người đi vào một xã hội không còn là người nữa ,nếu không hẳn là xã hội loài thú . Không có kẻ cảm thông , không có người thân thích , Cao Bá Quát , cũng như Kiều , vì tiền mà đã đi đến chỗ chỉ còn biết đối diện với chính mình  :

Nghĩ mình , mình lại thương mình xót xa .

Bản thân mình và xã hội đều đượm một màu xơ  xác .Bài “ Gặp người đói giữa đường “ ( Đạo phùng ngạ phu ) mô tả một người thiếu cơm, thiếu áo mà Cao Bá Quát đã gặp trên đường , nhưng người ấy cũng là thảm cảnh của chính mình ,của lớp sĩ phu nghèo khó ,thất thểu, tơi bời .

“ Tiến vi quan , thối vi sư “ , thành đạt thì làm quan ,không thành đạt thì trở về làm thầy , thầy đồ và thầy thuốc . Nhưng cả đám  thầy thuốc đều không có bệnh nhân  :

Kinh đô chẳng ai ốm...

Thầy thuốc từng đống ngồi .

( Đạo phùng ngạ phu )

Có thật người ở kinh đô đều khoẻ mạnh ? Mà kinh đô nào đây ? Huế hay Thăng Long ? Trước sức đe dọa của ngoại bang , trước loạn lạc lung tung trong nước, người ta chỉ khỏe mạnh vì lòng ích kỷ , vì biết nhắm mắt lại trước điều bất nghĩa , để có tiền , để sung sướng . Riêng chỉ có “ đống “ thầy thuốc , hạng người muốn chữa bệnh cho con người và cho xã hội , mới ốm đau , thất thểu ; ốm vì nghĩ đến đạo đức , rồi từ đó ốm vì đói . Phương thuốc chữa căn bịnh này là xóa bỏ trật tự khác . Cao Bá Quát đã suy nghĩ như thế trong văn chương :

Đừng thấy người bạch diện thư sinh ;

Mà cười rằng đa cùng tài tử “

và trong thực tế cũng đã hành động theo ý nghĩ của mình :

Bình Dương , Bồ bản , vô Nghiêu Thuấn,

Mục dã, Minh điều, hữu Võ Thang .

Tiền đè nặng lên giá trị con người , khí phách hiên ngang của kẻ sĩ hay của con người nói chung đã bùng lên trước bần cùng nhưng để rồi tàn lụi dần !

Nguyễn Khuyến đã có một cái nhìn tổng quát về tiền. Ông nhớ lại chuyện xưa , rồi so sánh với chuyện ngày nay và hờn mát đồng tiền :

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ ?

Đời trước làm quam cũng thế ư ?

Đó là một câu hỏi bao hàm nhiều ý nghĩa . Vì tiền mà quên mất công lý là chuyện đáng ngạc nhiên đời trước , nhưng trong thời buổi này thì có gì đáng lạ  ! Sự kiện tiền bẻ cong công lý đã trở thành thong lệ phổ quát :

Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp

Nẹt thằng mặt trắng lấy tam nguyên

Tiền đã tàn phá sâu sắc đạo đức nhân nghĩa trong xã hội , không còn có phương thức để sửa chữa cũng như một cuộc cờ “ không còn nước “. Nguyễn Khuyến đành giả lơ , giả điếc ,giả làm ông phổng đá ,ông tượng đất để giữ chút lòng ngay thẳng , trong sạch trước đồng tiền :

Ông đứng trông trời sướng thế ông ,

Tơ vương chẳng bợn chút hơi đồng .

(  Ông tượng đất )

Nhưng đến Tú Xương thì con người không thể nào không “ bợn đến hơi đồng “ nữa . Tiền bạc đã ngự trị trên hết . Chính Tú Xương đã nhận xét :

Phàm kim chi nhân duy tiền nhi dĩ

( Phàm người bây giờ chỉ thích tiền mà thôi ) . Con người bây giờ bị dập vùi , xơ xác theo tiền bạc . Bản thân Tú Xương , vợ con , gia đình ông ,tất cả đều tan nát :

Bố ở một nơi , con một nơi,

Bấm tay tháng nữa hết năm rồi.

( Than thân )

Tiền đã phá hoại thể xác lẫn tinh thần của ông và của cả gia đình ông :

Bức sốt nhưng mình cứ áo bông

Tưởng rằng ốm dậy hóa ra không

Một tuồng rách rưới con như bố

Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng

( Mùa nực mặc áo bông )

Thời đại con người giữ khí phách hay dửng dưng trước đồng tiền hầu như đã đi qua , bây giờ chỉ còn nghe những lời van vỉ :

Van nợ có khi trào nước mắt

Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi

( Than nghèo )

Cao Chu Thần , tuy không có chỗ đứng trong xã hội nhưng còn có một mái lều tranh , có vợ , có con  chó cái , với dăm ba đứa học trò , Tú Xương thì hết sạch sành sanh , bán cả nhà , cả vợ lẫn con  :

Khách hỏi nhà ông đến

Nhà ông đã bán rồi

Vợ lăm le ở vú

Con tấp tểnh đi bồi

Con người vong gia thất thố đó đã phải bó tay trước đồng tiền . Tất cả nghị lực , khí phách ngày xưa bây giờ chỉ còn là những lời chửi đổng hay cái ký ức tuy cảm động nhưng thật mơ hồ về một người bạn cách mạng nơi chốn xa xăm :

Ta nhớ người xa cách núi sông

Người xa , xa có nhớ ta không ?

Nhìn chung mà nói , tiền đã chính thức xuất hiện như một đề tài quan trọng trong nền văn chương của chúng ta vào buổi giao thời của hai thế kỷ  18 và  19 . Từ bấy giờ cho đến cuối thế kỷ 19 là lúc mạt vận của văn Nôm  , tiền đã tấn công tàn phá, đày đọa thân phận làm người . Trong Đoạn Trường Tân Thanh , Nguyễn Du còn đứng ở ngoài cuộc như một người quan sát để nhìn tiền tàn phá con người và xã hội, dù con người và xã hội ấy đã có liên hệ chặt chẽ với ông . Từ Nguyễn Công Trứ trở đi, con người bị tiền đày đọa không phải là con người tha nhân, mà chính ngay là bản thân các tác giả . Khí phách hiên ngang của con người dần dần mất đi . Đến Tú Xương thì cuộc tàn phá của tiền hầu như đã hoàn thành , số phận con người trở nên bi đát , tài năng không còn đường tiến .

Tiền đã xuất hiện trong văn học Tây phương đúng vào lúc tầng lớp tư sản ( bourgeoisie ) trở nên giàu có với cuộc đổi mới về kinh tế và cách mạng kỹ nghệ . Nhưng còn ở nước ta thì vì lý do gì mà tiền đã trở thành một đề tài quan trọng trong nội dung văn chương và tư tưởng ? Nghiên cứu vấn đề này có lẽ là công việc của các nhà xã hội học, kinh tế học và sử học . Đứng về mặt văn học chúng ta chỉ nhận xét là thân phận con người và tiền đã quan hệ chặt chẽ với nhau trong thế kỷ 19 và trong lúc thế lực của tiền đã phát triển đi lên theo thời gian thì thân phận con người càng ngày càng sa sút , trở nên xơ xác , bi thảm . 

San Diego , muà đông  1993

Nguyễn Đăng Ngọc

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive

 

Kính tặng Thầy Hoàng Bích Sơn

thayHBSon

Với chiếc cặp da to, màu vàng cũ kỷ

Áo sơ mi, quần tây dài giản dị,

Mái tóc ngắn và ánh mắt ngời sáng,

Thầy bắt nhịp bài ca “ Lên Đàng “.

Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng,

Kiếm nguồn tươi sáng,

Ta nguyện đồng lòng điểm tô non sông,

Từ nay ra sức anh tài.

Đoàn ta chen vai nề chi chông gai lên đàng,

Ta người Việt Nam.

Nhìn tương lai huy hoàng,

Đoàn ta bước lên đàng cùng hiên ngang hát vang ! ...”

 

Thầy đã viết cho chúng con được hát,

Mỗi sáng thứ Hai ngập nắng sân trường,

Mỗi chiều thứ Bảy vàng ánh hoàng hôn,

Lời bài hát “ Hiệu đoàn ca Phan Châu Trinh hành khúc “.

“ Phan Châu Trinh người chiến sĩ quốc gia bất diệt,

đã từng hy sinh tranh đấu cho dân quyền.

Ngàn đời còn ghi công ơn nhà chí sĩ

............................................................

Là học sinh Phan Châu Trinh ta quyết tiến

bước theo chân Người, giữ vững dân quyền

Rèn tâm chí, quyết chí, cùng nhau tiến, quyết tiến,

ghi nhớ ơn Người đoàn ta quyết đi lên ! “

 

Lòng thầy gởi theo bài ca hùng tráng,

Sẽ theo chúng con đến tận cùng năm tháng,

Vượt qua bao gian khó của cuộc đời,

Vẫn quyết tiến lên, phấn đấu để thành người,

Cho đến hôm nay khi mái đầu đã bạc,

Chúng con về đây, lòng vẫn ngân vang điệu nhạc,

Vẫn được thầy bắt nhịp cho chúng con,

Ôi hạnh phúc thay ! Hạnh phúc thật no tròn.

Thầy bắt nhịp bài ca thân thương nhất :

Bài “ Hiệu đoàn ca Phan Châu Trinh hành khúc “.

 chinh2

Nguyễn Văn Cư ( PCT 1965-72 )

( ĐS Kỷ niệm  60 năm thành lập trường Trung học PCT,Đà Nẵng . California 7 / 2012 )

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active

 TinhbenxeDap2

Có bao giờ em về ngang trường cũ

Nhắn giùm anh cây cỏ ngủ ven đường

Dù phiêu bạc mãi hoài nơi xứ lạ

Vẫn một lòng hoài nhớ một quê hương

Anh vẫn nhớ những tháng ngày năm ấy

Tay trong tay ta chập chững vào trường

Hàng phượng đỏ đón chào em đến lớp

Chút nắng vàng ngây ngất một mùi hương

hoa phuong hay nhat 10


Anh vẫn nhớ em ngồi đầu lớp học

Nắng sân trường len lén đến bên song

Từ cuối lớp anh bồi hồi ngây ngất

Mới buổi đầu suy nghĩ đã lung tung

Bài thầy giảng bỏ quên ngoài cửa lớp

Bởi trong anh chớm một mối tình si

Thầy có phạt, vẫn trộm nhìn em mãi

Hương bưởi nồng như sương khói tan đi

Em có nhớ về thầy K. dạy toán

Vẽ vòng tròn , tay phải trái như nhau

Hay thầy Khải, ngày đầu vào lớp học

Bạn nữ cười, thầy đỏ mặt quay mau

Anh vẫn nhớ thầy K. môn Vật Lý

Mặt rất hiền nhưng cũng rất nghiêm trang

Mỗi khi giảng cứ như đang ngậm kẹo

Vừa giảng bài vừa nuốt vội vào trong

Còn cô Liệu ơi hiền lành nhỏ nhắn

Lời cô phê trong học bạ năm nào

Anh vẫn nhớ, suốt đời anh vẫn nhớ

“ Giỏi, hiền, ngoan “, ngày ấy , chợt nôn nao

Anh ghét nhất là môn Vạn vật

Dù thầy T. thuở đó giảng rất hay

Anh không thích đem người ra mổ xẻ

Những cái gì trần trụi sẽ không hay

Anh thích nhất nghe thầy Hiền dạy triết

Dáng cao gầy nhưng mạnh mẽ vô biên

Anh cũng thích nghe thầy Lâm Thành Bích

Hướng dẫn mình năm cuối lớp Đệ tam

Năm Đệ Nhất thầy Kính làm hướng dẫn

Anh B 3, em B 4 chia xa

Anh ngồi đó nhớ nhung về lớp khác

Sợ cuộc tình rồi cũng sẽ phôi pha

Em có nhớ, ôi chao ơi là nhớ

Mỗi thầy cô, một khuôn mặt thân thương

Mỗi bóng cây, mỗi lớp học , sân trường

Nhớ con người, anh nhớ cả quê hương

Thay Ngoc

Và quê mẹ có những ngày tăm tối

Rời quê nhà anh bỏ xứ đi xa

Ngày mộng mị và đêm dài quay quắt

Một nỗi buồn sầu thảm lắm em ơi

Ôi, nỗi nhớ, những ngày thơ ấu cũ

Phan Châu Trinh, Đà Nẵng thuở xa xưa

Đời phiêu bạt anh xứ người dong ruổi

Nắng quê người, cứ ngỡ nắng xuân xưa

Anh sẽ mãi không về thăm nơi ấy

Em bây giờ cũng bỏ xứ ra đi

Ngôi trường cũ chỉ còn là kỷ niệm

Và cuộc tình ngày đó đã phân ly

MISA, PCT 1963-70

San Jose 2012

( ĐS Đại Hội Toàn Thế Giới Kỳ IV, California 1 tháng 7  năm 2018 )