Trung Học Phan Châu Trinh

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active

 
De Tu PCT19550009E

Niên khóa 1958-59, phòng học của lớp Đệ lục 2 Phan Châu Trinh, ở trên lầu , gần cuối dãy. Nhớ một hôm tan trường, vội vàng ra về, để quên tập. Sau phải trở lại lấy, và khám phá ra phòng học, tưởng là “ giang sơn “  riêng của Đệ lục 2 ban mai, cũng là phòng học của Đệ Tam B, buổi chiều.

Hơn một lần để quên tập, sao tôi vẫn nhớ lần này hơn cả ? Có phải như câu nói của một người bạn cùng trường cũ, mấy chục năm sau : “ Không có sự việc, sự vật nào vô nghĩa, cho dù vật nhỏ nhoi, việc tầm thường nhất. Nhưng chỉ đối với những người lưu tâm tới nó, mới nhận được tác động cụ thể của nó mà thôi “.

Phải rồi, phòng học này cũng  là nơi Đoàn thị Tường Vi, người bạn thân đầu đời, bao lần ở giờ ra chơi, đã thập thò nơi cửa lớp đứng đợi tôi, ngay cả khi còn giáo sư. Các thầy cô khác hình như chẳng để ý, ngoại trừ Cô Liễng (bà Trần Ngọc Liễng ). Một hôm Cô hỏi, thì Tường Vi thưa : “ em đợi H “. Nhiều lần quá, mãi rồi Cô thấy quen, không hỏi nữa ! Một ngẫu nhiên êm ái là Tường Vi và tôi, dù khác lớp , vừa gặp nhau là trở thành đôi bạn nhỏ thân thiết,  khắn  khít không rời.

Ngoài những giờ ra chơi ở trường, chủ nhật hay ngày lễ, Tường Vi thường lại vào những lúc tôi trông đợi nhất. Hai đứa qua bao nhiêu giờ, bao nhiêu ngày quấn quýt bên nhau.

 Vui nhất là những lần ”tập đi xe đạp”. Dù Hè Đệ thất đã  tập, song tôi vẫn chưa rành. Trong khi Tường Vi vừa đi được cả xe đạp “đầm“ lẫn xe đàn ông người lớn. Một chân quàng qua thanh ngang, bạn vòng qua, vèo lại trong sân nhà tôi. Đứng nhìn Tường Vi, nhanh nhẹn y hệt một con sóc nhỏ, tôi phục lắm, trong khi mình cứ lên xe là té xoành xoạch ! Hai khuỷu tay và đầu gối của tôi, ngày đó, đầy “ thương tích “. Những vết xước, có khi rớm máu, khá đau , được thoa dịu bằng những cái thổi nhẹ thật mát, với xuýt xoa ân cần của người bạn nhỏ dễ thương, khiến tôi quên đau ngay, để không bỏ cuộc.

Cuối tuần nào đẹp  trời , tụi tôi đều nghĩ ra  một trò chơi riêng. Thường thường là nơi khoảng sân nhỏ, dưới gốc cây bên hiên nhà tôi. Khi thì chơi “ nấu ăn “, nấu xôi, nấu chè ...  với mấy cái nồi tí hon, thô sơ  bằng đất . Rồi sau cùng nhau vui thích thưởng thức “công trình”... Có  khi “ tập may áo” với mấy mãnh vải hoa kiếm được đâu đó, cho con búp bê nhỏ. Rồi tắm cho nó và thay áo mới trước khi ru ngủ , tưởng tượng như  thể đang chăm một em bé ! ( Ngày xưa đồ chơi của trẻ con rất đơn sơ , nhưng bọn tôi vẫn thấy vui và cảm thấy “đầy đủ” với số đồ chơi giới hạn mình có ).  

Chủ nhật nào trời mưa, không ra ngoài chơi được, hai đứa bên nhau, nằm “nghe mưa rơi lộp độp trên mái nhà ”, hân hoan  xem đó như một “khám phá“ mới ! Có khi cùng đọc truyện của các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn. Bắt đầu từ Khái Hưng , qua “ Ông Đồ Bể “ ,  cùng say mê “ Tiêu Sơn Tráng sĩ ... Hay tìm đến Nhất Linh ,  qua “ Đôi Bạn “ , và từng có  một chút “thắc mắc “  : “  Dũng và Trúc , hay... Dũng và Loan  chính là “ Đôi bạn “  theo nhà văn Nhất Linh ? .

Và cả hai  đều vô cùng ngưỡng mộ Vua Quang Trung, qua bài học Sử :

...Ngày mùng 5 Tết , Nguyễn Huệ tiến quân vào thành Thăng Long, aó giáp vàng còn hoen thuốc súng ...” . Hình ảnh thật đẹp và biết bao oai phong này, hơn tất cả  nhân vật lịch sử nào của Việt Nam , lại như biểu tượng của một đấng nam nhi hào hùng  lý tưởng, qua nhận thức của... tuổi 13 !

Hồi ấy cũng là thời gian cây vợt bóng bàn trẻ tuổi Lê Văn Tiết đem lại vinh dự cho  Việt Nam Cọng Hoà , lúc đoạt giải vô địch bóng bàn  tổ chức  tại Pháp , sau khi oanh liệt hạ tay vợt người Nhật- đương kim vô địch thế giới  thời điểm đó .

Một ngày vui mừng và hãnh diện khó quên của đất nước, của người dân miền Nam và nhất lả của thế hệ tuổi trẻ Việt Nam, trong số có Tường Vi và tôi. Bấy giờ chưa có  truyền hình, tất cả tin tức chỉ qua truyền thanh hay báo chí mà thôi. Tuy nhiên,  bất cứ hình ảnh hay tin tức nào về  “ thần tượng “ Lê Văn Tiết  mà Tường Vi cắt giữ lại được ở những tờ  báo trong nước đều thích thú đem lại cho tôi xem  . Và những gì tôi biết , qua người cậu , một “ fan “ trung thành của Lê Văn Tiết, qua mấy tờ  tạp chí thể thao, báo quân đội v..v... tôi cũng nôn nao trông đợi lúc gặp Tường Vi, để  vui mừng chia sẻ  ngay với bạn .

Còn nhớ một chủ nhật trời mưa,  Tường Vi  vẫn lại chơi với tôi, như thường lệ. Hôm ấy, hai đứa đang chơi “croix-zéro“,   bỗng tình cờ nghe được bài hát “ Đường Lên Sơn Cước “ , lần đầu tiên, ở  trên đài phát thanh Saigon , từ cái “ radio “ nhỏ của gia đình. Cả hai  liền ngừng chơi , lắng tai theo dõi một  tiếng hát nào thật hay, thật vô cùng ấm áp . Và tôi yêu thích ngay lời ca cũng như nhạc điệu của ca khúc này. Vài câu  hát như còn văng vẳng bên tai tôi , cả mấy ngày sau  :

“ ...Tôi mơ bóng dáng yêu kiều

      Xa trong rừng núi, trời sương khói mờ

     Sầu vương vấn trên đường tơ...”

Chủ nhật tiếp đến, không hiểu Tường Vi tìm được ở đâu và chép lại nguyên lời của toàn bài hát, rồi đem đến cho tôi như một “surprise“.  Tựa bao lần khác, Tường Vi như thể “ đọc “ được những gì trong ý nghĩ của  tôi ...  

Đôi bạn nhỏ qua bao ngày vui êm đềm,  ấm cúng trong tình bạn . Quả đúng với câu “ tâm đầu ý hợp “.

Nhưng, chỉ mấy tháng sau, năm học hãy còn chưa hết, Tường Vi đột ngột ra đi !  Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận nỗi đau  khi mất người thân. Cái chết của bạn nhỏ ám ảnh tôi mãi.

Tình bạn, dẫu chỉ một thời gian ngắn, đã để lại cho tôi biết bao thương nhớ. Những ngày tháng tiếp đó ,  nhiều hôm đi ngủ tôi  đều mơ thấy Tường Vi . Tưởng chừng như bạn nhỏ hãy còn sống và vẫn đến với tôi, rồi bao lần như một, tỉnh giấc trong thổn thức... Mẹ tôi thấy vậy đã lo lắng,  ,an ủi  và khuyên nhủ tôi :  thương Tường Vi thì cầu nguyện cho bạn , vì “ thương nhớ khắc khoải chỉ làm người  ra đi bận tâm, linh hồn khó siêu thoát “. Tôi  nghe lời mẹ , cố gắng nguôi ngoai dần, sau một thời gian .

Hôm Cô  Liễng hay tin Tường Vi mất, Cô ôm tôi : “Oh ! les deux petites inséparables qui se séparent...“ ( “ Hai nhỏ không rời nhau mà xa nhau... “) . Cô làm tôi muốn khóc !

Hơn sáu chục năm đã trôi qua, nhưng gương mặt  hồn nhiên láu lỉnh dễ thương, với mấy nốt tàn nhang li ti hai bên sống mũi, cùng tiếng nói nhanh , thật vui của  bạn nhỏ, vẫn đằm thắm và  hãy còn rõ như in nơi ký ức của tôi .

 Mỗi lần nghĩ, nhớ đến người bạn thân đầu đời là tự nhiên hình ảnh của Cô Liễng , cô giáo dạy Pháp Văn ngày xa xưa , lại cùng một lúc nao nao hiện ra  trong hồn tôi. Như gần đây, một hôm bất ngờ nhận được email báo tin Lễ Cầu An đầu năm của Chùa Khánh Anh bên Paris. ( Có thể một người bạn Phan Châu Trinh nào đó hay lễ chùa này , đã tiện tay ghi địa chỉ email của tôi vào danh sách đệ tử nhận thông báo ? ) Biết Cô Liễng đã qua đời và tro cốt của Cô được ký tự  nơi đây, một niềm xúc động , chen lẫn trong tín ngưỡng, nhớ thương và bâng khuâng nơi hồn tôi...

Tôi tin linh hồn con người  vẫn còn  tồn tại sau cái chết , cũng như tin tưởng tình cảm là  sự hổ tương. Và Tường Vi , dẫu đang ở thế giới xa xôi nào đó, vẫn nghĩ và nhớ đến tôi, như tôi vẫn hằng thương nhớ bạn.

Tường Vi ơi, rồi đây sẽ có ngày  tụi mình gặp lại nhau , hi vọng ở một nơi cũng êm đềm  như “ thiên đường Phan Châu Trinh “  thuở xưa...

Hảo Thanh

( PCT 1957-64 )    

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive

 
PCT 3541R

Khi lớn lên bắt đầu cắp sách đến trường, tôi học vỡ lòng tại một trường làng ở gần đình Thành Mỹ, quận Tam Kỳ. Cô giáo là bà chị con ông bác của tôi là cụ V.N.C. Nhưng rồi thay vì “ xuống “Quán Rường, theo học trường tiểu học của xã Kỳ Mỹ lúc bấy giờ, tôi lại về ở với ông bà ngoại ở làng Kim Đới , xã Kỳ Anh và rồi đậu bằng “ thành chung “ ở đó. Nghe nói có bằng “ thành chung “ chắc quý vị tưởng tôi già lắm. Bằng thành chung thì vào thời Pháp thuộc kia. Nói cho vui vậy chứ tôi đậu bằng tiểu học vào năm chót của thời Đệ nhất Cộng Hoà, tức là hè năm 1963.

Sau đó tôi thi đậu vào lớp Đệ thất của trường Trần Cao Vân ( T C V ), Tam Kỳ, cho niên khóa 1963-64 . Vào thời kỳ đó, thi vào đệ thất ( tức lớp 6 bây giờ ) cũng chua cay lắm chứ không phải dễ.

Các bạn tôi đứa nào không học vững về Toán và các môn khác thì rớt như chơi, vì sĩ số học sinh được nhận vào có giới hạn . Đã có một vài nơi tổ chức luyện thi vào đệ thất lúc bấy giờ.

Thi rớt thì ra học trường tư, xem không có “ oai “ gì cả mà cha mẹ lại phải trả học phí. Lúc ấy các thầy, cô  dạy trường công thì phải tốt nghiệp sư phạm , nên trên nguyên tắc họ phải dạy giỏi hơn mấy ông thầy ở trường tư, dạy giờ, đôi khi họ học chưa xong cử nhân, hoặc chỉ có vài chứng chỉ.

Khi tôi vào trường Trần Cao Vân, ôi sao tôi thấy nó nguy nga và to lớn làm sao. Tôi còn nhớ lúc đó, có một ông thầy trước khi giảng bài, ông khuyên chúng tôi nên cố gắng học hành vì “ các em phải hiểu rằng các em được may mắn học trong một trường ốc khang trang, có hai lớp cửa sổ “. Lúc ấy tôi nhìn ra cửa sổ và thấy ông thầy nói đúng ghê, quả là tôi đang ở trong một lớp học đầy đủ tiện nghi, phòng học có thêm một lớp cửa sổ bằng kính, ngoài cửa sổ lá sách bằng gỗ, khác xa với các trường làng nhà quê !

Năm sau tôi chuyển ra Đà Nẵng, sống với chị tôi, lúc ấy vừa được  bổ về làm việc tại nhà thương chính của thành phố trên đường Hùng Vương. Từ trường công này chuyển qua trường công khác không có gì trở ngại cho lắm. Thế là tôi vào học lớp Đệ lục 4 cho niên khóa 1964-65 của trường Phan Châu Trinh ( PCT ).

Chị tôi thuê một căn nhà trên đường Nguyễn Hoàng trong một con hẽm nhỏ, đi kế bên nhà Bà Đệ bán nem tré, mà ở Đà Nẵng ai cũng biết. Lúc đó đối diện nhà Bà Đệ người ta chưa xây nhà thương đa khoa. Đó chỉ là một khoảng đất trống nếu tôi nhớ không lầm.

Từ nhà đến trường PCT, tôi đi bộ mỗi buổi sáng trên đường Nguyễn Hoàng, đi qua nhà thờ Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ, qua đường Cô Giang, rồi qua trường Nam Tiểu học, băng qua đường thì vào đến trường PCT.

Lớp Đệ lục 4 của tôi năm đó được sắp xếp ở giữa dãy nhà chính, nằm gần cột cờ của trường . Tôi còn nhớ cái cảm tưởng đi trong một hành lang dài và rộng thênh thang để đến lớp học. Tôi ngồi ở cuối lớp và gần kề cửa ra vào.  Trai gái lúc đó còn học chung với nhau, chưa có trường Hồng Đức cho nữ sinh. Phòng học thì rộng rãi với một tấm bảng đen rộng và dài, so với cái bảng đen nhỏ xíu lúc tôi còn học ở Tiểu học. Có hai người thầy mà tôi còn nhớ tên là thầy T.N.Q và thầy T.Q.B.

Thầy Q. thì nay không còn nữa , nhưng thầy T.Q.B thì hiện ở La Verne, California. Tôi còn nhớ thầy T.Q.B sao giỏi Anh văn đến thế ? Ông cầm quyển English For Today  mà đọc lưu loát, lại pha chút giọng Anh hay Mỹ gì đó đối với chúng tôi lúc ấy làm tôi bái phục khả năng Anh ngữ của thầy quá trời. Tôi còn nhớ ông đi chiếc vespa thì phải, chạy đậu ngang trước văn phòng, rồi đi thẳng vào phòng giáo sư nằm ở dãy nhà bên trái của trường. Cái hình ảnh đó đẹp vô cùng lúc ấy đối với bọn học trò chúng tôi.

Mỗi khi thay đổi môn học, các thầy, cô thay nhau về lớp mình. Học trò thì yêu kính thầy, thầy thì dạy hết lòng và có nhiều tư cách của một nhà mô phạm. Đời sống của giáo sư tương đối đầy đủ và có địa vị trong xã hội. So với thời nay nền giáo dục dưới chế độ C.S, chuyện viết ra trên kể như tiểu thuyết, nhưng đó là sự thật.

Tôi học ở PCT một năm, thì năm sau lại chuyển qua trường khác, tuy đã là học sinh của PCT thì ở Đà Nẵng tương đối là “ ngon nhất “ rồi. Nhưng ba mẹ tôi thấy tôi có năng khiếu về kỹ thuật vì lúc nhỏ tôi hay  tự chế đồ chơi cho chính mình, vì làm gì có nhiều đồ chơi như con trẻ bây giờ, nên khuyến khích tôi thi vào trường Kỹ Thuật Đà Nẵng ( KTĐN ).

Khi đến thăm trường KTĐN, tôi thích qúa. Trường mới xây được có mấy năm nên trông còn mới, với một lối kiến trúc tân kỳ. Trường có văn phòng rộng rãi, có nhiều dãy lầu cho các lớp học ngăn nắp, có nhà xưởng đủ các ngàh nghề với máy móc tối tân. Ở giữa trường có cả một sân bóng rỗ cho học sinh chơi, lúc đó không biết tại sao tôi không học chơi môn thể thao này, chắc là không mua nổi trái banh bóng rổ chăng ? Trường lại có thêm một ông Mỹ làm cố vấn, lo giúp đỡ cho trường lúc ban đầu.

Tôi trúng tuyển kỳ thi vào lớp Đệ ngũ trường KTĐN với hạng ba và được cấp học bổng cho một năm. Lúc đó tôi còn nhớ số tiền học bổng này đã giúp tôi sống gần cả năm mà không cần xin tiền ba mẹ. Vừa chuyển qua KTĐN thì tôi lại đi ở trọ vì chị tôi đã xin về Sài Gòn làm việc tại Bộ Y Tế. Tôi trọ tại nhà một người quen, gần trường KTĐN. Lúc đó người Mỹ đã vào Đà Nẵng rất đông. Bà chủ nhà năm đó có nuôi thêm mấy người Phi Luật Tân qua làm việc cho hãng RMK.

Đến giờ ăn, tôi được phép ngồi chung bàn với mấy anh Phi làm công này, nhưng vốn liếng Anh văn của tôi lúc đó chỉ có mấy câu, nên cũng không trao đổi gì với nhau được nhiều. Năm sau tôi lại dời đến nhà một người quen khác nằm trong vùng đất gần sát biển Thanh Bình . Đi đường Khải Định, chạy ra biển đến cuối đường, quẹo trái thì vào khu này. Tôi còn nhớ ở đầu hẻm có căn nhà khang trang của thầy T.T.D.K, lúc trước làm hiệu trưởng trường TCV. Sau ngày đảo chính 1-11-1963, thầy về dạy ở trường PCT.

Khu đất này, tôi nhớ vào những năm đó, ai đến trước thì cắm đại, chiếm đất, xây nhà , rồi biến thành nhà đất của mình. Đa số là dân từ vùng quê bị CS chiếm đóng chạy về đây tìm cách sinh sống. Sau này có lẽ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng hợp thức hóa cho các vị được may mắn này.

Cuối đường Khải Định, trước khi ra biển Thanh Bình, tôi còn nhớ có một quán bán nước ngọt, nước đá chanh nằm bên tay phải, trước khi quẹo qua các con đường khác vào khu nhà lúc ấy cho Mỹ thuê rất nhiều, Tại quán này tôi và chú em V.K.G, con một ông chú, đã nhiều lần ngồi uống nước đá chanh bên nhau, nhìn xe cộ qua lại , bụi bậm thì bay lung tung, vì con đường chưa được tráng nhựa.

Ở trọ tại Đà Nẵng, có lúc tôi phải đi ăn cơm tại quán cơm học sinh nằm trên đường Độc Lập, gần bên Hội Việt Mỹ. Quán cơm này tương đối sạch sẽ và món ăn chỉ có vài món đơn giản gồm một canh, một xào và cơm trắng. Giá thì rất rẻ, chỉ kẹt cái là phải đạp xe từ biển Thanh Bình đến đây, tương đối xa.

Nhờ có việc phải đến đây ăn mà tôi có nhiều dịp ghé qua Hội Việt Mỹ để đọc báo, nhất là tìm cho được tờ Thế Giới Tự Do. Cũng trong tờ báo đẹp này mà tôi được biết phi hành gia John Glenn Jr. bay vòng quanh trái đất. Ôi hình ảnh của phi hành gia này làm tôi ngưỡng mộ nước Mỹ quá trời, lại thêm những hình ảnh đẹp đẽ của nước Mỹ làm tôi thấy đây là thiên đường của nhân loại. Trong khu vực biển Thanh Bình nầy tôi đã ở cả thảy ba chỗ khác nhau trong vòng ba năm . Mỗi lần đi học về, buổi chiều đi bộ dọc theo bờ biển nhìn thấy các tàu chiến của Mỹ đổ neo đậu ngoài xa. Ban đêm các con tàu nầy lấp lánh ánh sáng trông rất đẹp mắt và cảm thấy an tâm cho cuộc chiến gìn giữ tự do lúc bấy giờ. Có lẽ đây là những con tàu thuộc Đệ thất hạm đội của Mỹ.

Lúc ấy tôi chưa biết nhiều về những mưu lược của chính sách do Hoa Kỳ đang bày vẽ ra cho dân Việt Nam. Vì vậy tôi cứ tưởng rằng sức mạnh quân sự như thế thì làm sao nghĩ đến phản bội và bỏ chạy được.

Vì là học sinh kỹ thuật nên chúng tôi phải mang theo bảng vẽ cho môn kỹ nghệ hóa. Tấm bảng tương đối to, đi bộ thì mang theo trên tay cũng nhọc nhằn lắm , chưa kể còn phải mang theo các sách vở khác. Hôm nào đi xe đạp, thì tôi để cái bảng vẽ trên ghi-đông, hai tay kẹp bảng vẽ ở hai đầu.

Trời mưa là cả một cực hình cho đám “ áo xanh “ chúng tôi những hôm nào có kỹ nghệ họa. Tôi còn nhớ những hôm có văn nghệ để kỷ niệm những ngày lễ lớn, trường KTĐN tổ chức trên một sân khấu tương đối khang trang , nằm ngay dưới lầu của các lớp học.

Năm Mậu Thân 1968, tôi về Tam Kỳ ăn Tết với gia đình và đã chứng kiến nhiều cảnh đau thương do cuộc tấn công của Cộng Sản vào thành phố, tuy rằng cường độ không như ở Đà Nẵng, Sài Gòn hay những nơi khác lúc đó. Tôi đã nhìn thấy các nhà thường dân bị liệng lựu đạn , hay pháo kích gây ra cảnh chết chóc,thật thê lương cho đồng bào vô tội.

Muà Thu năm 1968 tôi rời miền Trung vào Sài Gòn học tại trường Kỹ Thuật Cao Thắng. Lại một lần nữa chuyển từ trường công này qua trường công khác. Đây là ngôi trường thứ tư và cũng là ngôi trường chót của tôi trong những năm còn ở trung học.

Tại đây tôi lại có dịp học môn kỹ nghệ họa với một giáo sư mà trước kia đã từng dạy ở trường Kỹ Thuật Đà Nẵng. Toán thì tôi học với thầy P.T.D, người có khuyết tật , đi xiên vẹo một bên nhưng thầy chạy xe gắn máy cũng như ai.

Cũng tại trường Cao Thắng này, tôi đã lần đầu tiên nếm mùi cay lựu đạn do các cuộc biểu tình của các cậu học sinh tranh đấu lúc bấy giờ tạo ra.

Dĩ nhiên tôi đứng bên lề của các nhóm phản chiến này và chỉ muốn được yên để học hành. Lúc ấy tôi đã biết rằng những việc xáo trộn ở hậu phương kiểu đó chỉ làm tổn hại đến cuộc chiến đấu chung của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mà kết quả như chúng ta đã nhìn thấy ngày hôm nay.

Tuy không thể nào nhớ hết nổi những kỷ niệm về bốn ngôi trường mà tôi đã “ mài đũng quần “ ở đó , nhưng mỗi lần nhắc đến Trần Cao Vân, Phan Châu Trinh, Kỹ Thuật Đà Nẵng hay Cao Thắng Sài Gòn  tôi vẫn bùi ngùi nhớ về Thầy, Cô , bạn cũ dù mỗi nơi tôi chỉ “ dừng lại “ có một vài năm. Bạn bè có lẽ ít ai còn nhớ đến tôi, chỉ trừ một số nhỏ. Nhưng tôi tự hào nơi “ mô ” tôi cũng có bạn, và đó chính là niềm vui cho tôi mỗi lần nghĩ về thời trung học của mình.

Garden Grove, California muà Xuân Kỷ Sửu 2009

Võ Phú Viên    

( ĐS Kỷ niệm Trường Xưa, ngày 05 tháng 07, 2009 tại Santa  Ana, California  )

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active

 

 vung bo da nang

Từ thế kỷ 18  thành phố Đà Nẵng  thay thế Hội An  giữ vai trò quan trọng, là cửa ngõ giao thông về ngoại thương, phát triển kinh tế của miền Trung. Những thương thuyền ngoại quốc, từ các nước Âu Châu, Mỹ hay các quốc gia Á Châu như Trung Hoa, Nhật, Ấn Độ, Macau, Singapore, Manila...từng lui tới cảng Đà Nẵng  qua nhiều giai đoạn khác nhau. Về địa danh Đà Nẵng theo nhà văn Trần Gia Phụng và nhà văn Võ Văn Dật, có nhiều danh xưng Hàn Cảng, Hiện Cảng...Nhưng nhiều người thường gọi là : Hàn, Tourane, và Đà Nẵng.

French ships at Danang 1858

Năm 1847 vì nhu cầu bành trướng thế lực ở Viễn Đông , và là điểm  khởi đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược Trung tá Rigault de Genouilly tới bắn phá Đà Nẵng. Thực dân Pháp chiếm Việt Nam là tham vọng thực dân đế quếc. Nhiều tài liệu cho rằng vấn đề truyền giáo, cấm đạo gây đến việc bế môn toả cảng của vua chúa nhà Nguyễn chỉ là một cái cớ để Pháp xâm lăng từ năm 1817 bọn thực dân Pháp từ bỏ bang giao bằng ngôn ngữ, thay thế bằng vũ lực là tàu đồng, súng đại bác với đoàn quân Viễn chinh thiện chiến. Với thảm kịch giám mục người Tây Ban Nha bị tử hình, nên Pháp lôi kéo được liên quân Tây Ban Nha tham chiến tại Việt Nam. Năm 1859 mở đầu những trang sử đau buồn cho dân tộc Việt Nam kéo dài gần một thế kỷ.

Đà Nẵng cũng là địa danh góp mặt với đầy đủ vẻ bi hùng trong lịch sử, từ thương mãi đến ngoại giao, đã biến thành chiến trường đầu tiên máu lửa. Đà Nẵng bị 66 năm làm nhượng địa, giao trọn quyền cho thực dân Pháp ( 1888 – 1950 ). Ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố chế độ bảo hộ và thuộc địa của Pháp cáo chung. Hoà ước 1884 vô giá trị, cho đến ngày 20. 7. 1945 Nhật long trọng trao trả các thành phố nhượng địa mà họ đã chiếm lại của người Pháp, từ đó danh từ Đà Nẵng chính thức thay thế tên gọi Tourane dưới thời thuộc địa.

Đệ nhị thế chiến đã làm thay đổi lịch sử thế giới và Việt Nam. Năm 1948 giải pháp Bảo Đại được đưa ra để giải quyết bàn cờ chính trị. Ngày 08. 03. 1948 tại điện Élysée ( Paris ), tổng thống Vincent Auriol và quốc trưởng Bảo Đại ký hiệp định trao  trả độc lập cho Việt Nam ( triều đại nhà Nguyễn 1802-1945 chấm dứt sau 143 năm ). Hai năm sau chính phủ Pháp chính thức trao trả Đà Nẵng vào ngày 03. 01.1950. Từ năm 1950 Đà Nẵng thuộc về Việt Nam. Một năm sau tôi ra đời tại thung lũng Quế Sơn và trưởng thành ở Hội An, Đà Nẵng. Dù sinh ra và lớn lên ở đâu, tất cả hình ảnh đẹp quyến rũ của quê mẹ không bao giờ xóa mờ trong tôi. Ba mươi năm cuộc đời viễn xứ, biết chúng ta là mây bay ngàn đời trên trời tha phương, nhưng trong tim vẫn còn vang vọng tiếng quê hương.

Thời ở Đà Nẵng, phần lớn thế hệ chúng tôi đi học, nếu có giờ rảnh thích rong chơi tắm biển, xem ciné, ít chú ý đến biến cố địa danh, lịch sử  của quân dân Việt Nam chống Tây. Kiến thức về lịch sử, địa lý rất hạn hẹp vì chỉ học những giờ Sử Đia ở trường mà thôi. Những thập niên qua với tinh thần tìm hiểu quá khúc của đồng hương Xứ Quảng, phát hành Đặc san xuân, hàng năm Đại hội liên Trường, ngày giỗ cụ Phan Châu Trinh do Hội ái hữu cựu học sinh THPCT ĐN tổ chức, và liên lạc được khá nhiều bạn một thời Phan Châu Trinh khắp nơi trên thế giới, đã làm cho tôi hồi tưởng lại những kỷ niệm về Quảng Nam Đà Nẵng, về mái trường xưa không ít.

Nhìn lại thời thuộc địa, người Pháp không thực sự muốn khai hóa dân tộc Việt Nam, giới hạn phát triển các trường Trung và Đại học. Suốt thời gian bị nhượng địa cho Pháp, Đà Nẵng chỉ có các trường tiểu học dành cho Pháp gọi là École Francaise  và hai trường cho Nam  ( École des Garcons ) và Nữ  ( École des Filles ). Tỉnh Quảng Nam đông dân nhất miền Trung không có trường trung học, những thế hệ trước phải ra học ở Huế hay Hà Nội.

Sau khi Đà Nẵng được trao trả “ độc lập “, do đề nghị của chính phủ Đà Nẵng, ông Bửu Đài thị trưởng và ông Giám đốc Nha học chánh Trung Việt, ngày  7. 8. 1952 Thủ hiến Trung Việt ông Lê Quang Thiết, ký công văn  số 3214-VP-SV cho phép mở lớp Đệ thất ( lớp 6 ) đầu tiên, khai giảng 15.9.1952  cho niên học ( 1952- 1953 ), 50 học sinh tạm thời học chung ở trường Nam tiểu học. Niên khóa ( 1953-1954 ) số lớp tăng lên gồm 3 lớp đệ thất và  2 lớp đệ lục, tất cả khoảng 300 học sinh.

Ngày 06.05.1954 quyền tổng trưởng bộ Quốc Gia Giáo Dục và Thanh Niên ban hành nghị định số  95 GD-NĐ, thành lập các trường trung học công lập đầu tiên miền Trung như : TH Đào Duy Từ ( Đồng Hới ), TH Nguyễn Hoàng ( Quảng Trị ), TH Trần Qúy Cáp ( Hội An ),TH Võ Tánh ( Nha Trang ), TH Duy Tân ( Phan Rang) , TH Phan Bội Châu ( Phan Thiết ), TH Phan Châu Trinh ( Đà Nẵng ), theo cách thức tổ chức giống như các trường Quốc Học Huế, Chu Văn An Hà Nội, Pétrus Ký Sài Gòn.

Khi thành lập trường trung học công lập đầu tiên tại Đà Nẵng, cố gíao sư Bùi Tấn đã đề nghị tên trường là một trong ba danh nhân : Phan Châu Trinh, Trần Cao Vân, Thái Phiên và Hội Đông giáo sư đa số chọn là Phan Châu Trinh ( niên khóa 1954-1955 ). Mỗi năm số lượng lớp học tăng, phải xây trường mới. Đó là khu đất đối diện trường Nam tiểu học, vốn là một vũng sình lầy, nằm trong phạm vi của bốn đoạn đường Lê Lợi song song với Duy Tân, đường Nguyễn Hoàng song song với đường Thống Nhất.

Ngày 19.05.1961 Bộ trưởng Quốc Gia Gíao Dục Trần Hữu Thế ký nghị định số 768-GD/PC/ND chính thức mở rộng các trường trung học đệ nhất cấp và đệ nhị cấp. Niên khóa 1958 – 1959 là năm đầu tiên trường Phan Châu Trinh có thêm lớp đệ tam ( lớp 10 ) gồm đủ các ban A-B-C; ( A  khoa học thực nghiệm, B Toán Lý, C văn chương và sinh ngữ ) học đến lớp đệ nhị thi tú tài phần I, phải ra Huế học tiếp thi tú tài toàn phần.

Ngày 11.9.1962, Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Nguyễn Quang Trình ký nghị định số  1448-GD/PC/NĐ chấp nhận các trường trung học dệ nhất cấp thành đệ nhị cấp trong đó có trường trung học Phan Châu Trinh. Bản nhạc Phan Châu Trinh hành khúc được giáo sư Hoàng Bích Sơn  sáng tác. Năm 1966 giáo sư Đoàn Văn Toàn dạy vẽ, dựng cốt và tạc tượng cụ Phan Châu Trinh tại số  5 Đống Đa  Đà Nẵng. Do học sinh đóng góp phế liệu bằng đồng, bà Châu Liên con gái cụ Phan và nhà văn Nguyễn Văn Xuân góp ý sửa chửa, đến hoàn thành kinh phí  37,000 theo thời giá trả cho thợ đúc đồng. Ngày 24. 3. 1966 tượng được khánh thành và dựng trước cột cờ sân trường. Đó cũng là húy nhật thứ 40  cụ Phan Châu Trinh.

Trường Phan Châu Trinh có cả nam và nữ. Riêng lớp chúng tôi không có nữ sinh. Sau này trường nữ Hồng Đức mở ra, thì trường Phan Châu Trinh vắng bóng hồng, dù phượng vĩ còn nở đỏ ở sân trường. Những hiệu trưởng của trường theo thứ tự từ  1952 đến tháng 3 năm 1975 : Lê Khắc Giai, Trương Cảnh Ngôn, Bùi Tấn, Huỳnh Văn Gi, Nguyễn Đăng Ngọc, Ngô Văn Chương,Châu Trọng Ngô,Đặng Ngọc Tuấn, Trần Vinh Anh, Thái Doãn Ngà, Huỳnh Mai Trác. Học sinh Phan Châu trinh mỗi sáng thứ hai phải mặc đồng phục  ( ngày thường quần xanh áo trắng ,mang giày không được phép mang dép ).

Đà Nẵng một thời vang bóng. Do càng ngày càng phát triển, thành phố càng ngày càng đông dân hơn. Nhiều trường trung học công được thành lập : Thanh Khê, Đông Giang, Nguyễn Trường Tộ, Quốc Gia Nghĩa Tử, Nữ trung học Hồng Đức, Văn Hóa Quân Đội, Kỹ Thuật. Ngoài ra còn có nhiều trường trung,tiểu học tư thục như Bồ Đề, Sao Mai,Thánh Tâm,Phan Thanh Giản, Tây Hồ,Bán Công,Nguyễn Công Trứ, Pascal, Thọ Nhơn...Nhờ sự vận động nhiều năm của các vị nhân sĩ Đà Nẵng, muà xuân năm 1974, Viện Đại Học Cộng Đồng được thành lập ( chương trình học như của Hoa Kỳ ).

Trường Phan Châu Trinh không ngừng phát triển, từ nhà trệt những năm sau xây thêm lầu, có thư viện, phòng thí nghiệm, thính đường sinh hoạt văn hóa, sân bóng rổ. Trường trở nên đồ sộ, có uy tín lớn, đào tạo nhiều nhân tài hữu ích cho quốc gia và xã hội. Tính đến ngày 29. 3. 1975 trường Phan Châu Trinh có  68 lớp gồm 42  lớp đệ nhất cấp và  26 lớp đệ nhị cấp.

Học sinh xuất thân từ trường xưa dù trong nước hay ở phương trời nào không thể quên hành khúc “Phan Châu Trinh người chiến sĩ quốc gia bất diệt...cùng phá xích xiềng giành lấy nhân quyền...Là học sinh Phan Châu Trinh ta tiến bước theo chân người, giữ vững dân quyền....” Ngày nay, ở trong nước, học sinh hiện đang học trường PCT có còn hát hành khúc này không ?

dnxua 7 1

Đà Nẵng thành phố bên Sông Hàn, gần biển xinh đẹp thơ mộng nằm giữa vùng kế cận ba di sản văn hóa thế giới : cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Chính vị trí này đã làm nổi rõ vai trò quan trọng. Đà Nẵng trải qua 703 năm ( 1306 – 2009 ) gắn liền với các thời kỳ lịch sử. Ngày nay về thăm Đà Nẵng chắc chắn chúng ta phải ngỡ ngàng trước nhiều đổi thay. Những con đường xưa bị đổi tên, nhiều dinh thự khu nghỉ mát dành cho những giai cấp mới tư bản đỏ sau  1975. Trong khi lịch sử Đà Nẵng cùng với lịch sử Việt Nam thay đổi, may mắn thay tên trường Phan Châu Trinh vẫn trường tồn với thời gian. Xin ơn trên ban phước lành cho tất cả cựu giáo sư và học sinh Phan Châu Trinh có lòng với quê hương, luôn vững niềm tin và sức khỏe để làm những việc có ý nghĩa cho quê hương và dân tộc…

Nguyễn Qúy Đại  ( Germany )

( “  ĐS Kỷ niệm Trường xưa. Santa Ana , Cali 2009 “ )

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive

 
PCT 3517BisR

Tôi quê quán ở Đà Nẵng, nhưng được ( hay bị ? ) đi chu du khắp nơi đây đó từ nhỏ. Thuở bé học trường Tiểu học Pháp, về sau này được xây dựng làm dãy nhà của ông hiệu trưởng và vài vị giáo sư trường Phan Châu Trinh. Sau đó được gia đình gửi ra Huế , học nội trú trường Providence từ 6è ( Đệ thất ) đến 3è (Đệ tứ). Về lại Đà Nẵng học xong Tú tài tại Lycée Pascal. Rồi vào Sài Gòn học đại học. Tốt nghiệp năm 1967, tôi về dạy tại Kiến Hoà đến 1973 mới xin đổi về trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng.

Sỡ dĩ phải nói dông dài vòng vo tam quốc như thế để nhắc đến cái duyên tao ngộ giữa tôi và trường Phan Châu Trinh khá muộn màng so với nhiều bạn bè đồng nghiệp khác.

Tuy không học trường Phan Châu Trinh, nhưng bạn bè của tôi ở đó nhiều lắm. Nguyễn Kim Long, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Cầu, Hoàng Văn Lạc, Hoàng Bích Thủy, Nguyễn Nam, Nguyễn Phương Toàn, Huỳnh Dũng...Có nhiều bạn bỏ học nửa chừng đi lính.

Khi tôi về dạy ở trường Phan Châu Trinh , một hôm đang gần cuối giờ dạy thì có tin nhắn “ xuống văn phòng có người cần gặp “.

Mấy “ ông thần “ bạn bè nhà binh của tôi đi hành quân về, aó quần, xe jeep còn lấm bê bết bùn đất, đã ghé trường “ kêu thằng Trác đi uống cà phê “. Bạn bè nhìn tôi nhe răng cười “ Để mừng tụi tau còn sống “. Tôi phải vào văn phòng hiệu trưởng nói khó xin nhờ người dạy giờ kế tiếp. Rất nhiều bạn bè tôi đã bỏ cuộc chơi nửa chừng giữa cuộc chiến, nhiều người khác được qua Mỹ theo diện HO, rồi cũng bỏ cuộc chơi sớm .

Cũng có vài người bạn học hành quá siêng năng chăm chỉ như Lê Chí Thảo, khiến tôi luôn luôn bị Me tôi răn đe : “ Con ráng học giỏi như con Dì Nhạn để mai sau làm ông nầy ông nọ với người ta “. Vì hai bà cụ quen nhau khá thân nên “ ông con “ ham chơi hơn ham học là tôi bị nghe Me tôi giảng morale dài dài !

Năm ngoái trong kỳ Đại Hội Phan Châu Trinh tổ chức tại nhà hàng Regent West, tôi đã gặp lại người bạn học giỏi thuở xưa sau hơn  40 năm xa cách. Vẫn gíáng vóc cao gầy, vẫn giọng Huế nhỏ nhẹ như ngày nào, Thảo ngẩn người ra một lát sau mới nhận ra tôi.

Hay như Nguyễn Nam, người bạn thân “ bỗng dưng “ gặp lại sau hơn hai mươi năm bặt tin. Vừa mới đây thôi, tôi nhận được một email lạ có tiêu đề “ Bạn Đà Nẵng đây “, ký tên Tô Hoài Nam. Anh nói là thấy tên tôi trên Forum của Ái Hữu Trường Phan Châu Trinh, nên gởi email nhắc lái vài kỷ niệm cũ và hỏi tôi có nhớ anh là ai không ?

Tôi trả lời, kể tên vài người bạn như Nguyễn Kim Long, Nguyễn Đình Hòe...nhưng tôi không nghĩ ra anh là ai. Sau cùng thì ra là Nguyễn Nam  ! Lần gặp cuối cùng trước khi tôi qua Mỹ năm 1991 , Nam mời gia đình tôi đi ăn ở Sài Gòn. Rồi bặt tin từ đó đến giờ.

Quả đất nầy  tròn và nhỏ bé thật !

Vì vậy khi đổi về dạy ở trường Phan Châu Trinh năm 1973, tôi thấy mình như đã về một nơi chốn thân thương quen thuộc . Được các đàn anh, đàn chị đón tiếp rất thân tình. Câu chào đón thật đơn giản của chị Phan Thanh Gia Lai đã làm tôi thực sự cảm động  : “ Ừ, Trác về đây dạy với tụi mình cho vui, gần nhà, gần cửa “.

Các anh Huỳnh Mai trác, Lâm Thành Bích, Trần Đại Tăng cũng đã tạo điều kiện thật dễ dàng cho tôi trong việc phân phối giờ dạy, làm công tác hướng dẫn và hiệu đoàn. Cảm động nhất là mấy câu thơ của thi sĩ Trần Hoan Trinh  viết về bạn bè cũ sau mấy mươi năm xa cách trong đó có bốn câu thơ viết cho tôi . hay quá anh Tăng ơi ! Cám ơn ! Cám ơn thi sĩ !

Còn nhớ anh Trần Đại Tăng, lúc đó làm Giám học, sau khi đã giao đủ số giờ dạy cho tôi, vài ngày sau anh mời tôi xuống văn phòng để nhờ tôi dạy thêm lớp 12 C : “ Cụ học Sài Gòn ra, chắc dạy 12 C vững hơn. Mình nhờ Cụ nghe ! “  Làm sao mà từ chối cho đành khi anh có lối nói dễ thương như thế !

Còn nữa, nhiều lắm, và nhiều lắm .

Thầy Hoàng Bích Sơn, cây cổ thụ văn nghệ với “ Hành khúc Phan Châu Trinh “ nổi tiếng qua nhiều thế hệ.  Anh Đỗ Toàn, tac giả pho tượng Cụ Phan sừng sững trước sân trường. Các anh Trần Đình Quân với “ Khúc Tình Ca Xứ Huế “ ngọt lịm và êm đềm như giòng Hương Giang, người nghệ sĩ có nụ cười thật hiền , thật dễ thương, hình như chưa để mất lòng ai bao giờ, người đã rời bỏ cuộc chơi sau khi vướng vào căn bịnh làm anh quên hết những ưu tư dằn vặt của cuộc đời nầy. Tôi vẫn còn giữ cuốn Vườn Dâu Xanh  anh ký tặng tôi lần đầu gặp gỡ tại nhà anh.

Như anh Tôn Thất Lan, anh Tăng Kim Lân, chị Mộng Hoàn, “ một cây văn nghệ báo chí “, anh Huỳnh Khải, anh Trần Xuân Mai, Lê Quang Mai, anh Lộc dạy Công Dân, anh Cát Văn Uẩn dạy Anh văn, con người lúc nào cũng nói năng ôn tồn và rất gần gủi anh em, người mà cho đến bây giờ chúng tôi không biết tin tức anh đang ở đâu sau ngày mất nước. Tôi vẫn hay trò chuyện với anh sau những giờ dạy hay trong những lần đi trực đêm ở trường. Anh Uẩn rất thương tôi, và tôi cũng rất quý mến anh.

Vui nhất là mấy “ ông Tây nhà đèn “ chúng tôi, những người dạy Pháp văn mà anh em vẫn đùa gọi nhau là “ Pháp sư “ hay “ Tây nhà đèn “, hằng tuần hẹn gặp nhau ăn điểm tâm và uống cà phê ở quán Danube nằm trên đường Độc Lập. Trưởng nhóm Hùynh Mai Trác cùng đám anh em Tăng Kim Lân, Văn Đức  Triệu, Đặng Đăng Khoa, Lê Long Viên, Vĩnh Vinh và tôi vui đùa thân mật sau những giờ dạy hay làm việc căng thẳng ở trường. Không có một khoảng cách nào giữa hiệu trưởng, giám học và giáo sư.

Tôi yêu phong cách làm việc ở Phan Châu Trinh là vì thế. Không có “ chỉ tay năm ngón “ mà là “ nhờ anh, nhờ chị hay nhờ cụ...làm điều này, điều kia giùm mình...”

Còn nhớ khi anh Văn Đức Triệu du học pháp về, lừng lững đi vào trường trình diện, nhóm chúng tôi đã đặt ngay cho anh một biệt danh để đời : “ Văn Đức Triệu Lamartine, người sinh lầm thế kỷ “.

Triệu sống với anh em rất chan hoà dễ thương. Cũng du học từ Pháp về năm đó có anh Nguyễn Văn Thảo dạy Toán thật hay, con người đa tài nhưng bạc mệnh. Anh đã qua đời trong một tai nạn xe Honda.

Bạn bè của tôi ở Phan Châu Trinh còn nhiều lắm. Như đôi vợ chồng anh Kính dạy Lý Hóa và chị Quỳnh dạy văn hay anh Nguyễn Đăng Khoa và chị Mua cùng dạy Pháp Văn. Hai cặp này rất dễ thương , như những đôi chim bồ câu trong sân trường.

Tôi cũng không quên các anh Dương Đức Phương, Lê Long Viên lúc nào cũng đi rảo quanh sân trường, tay cầm chiếc roi mây dài ...thấy ớn lạnh ! Ít đánh học sinh, nhưng mấy em nhìn thấy hình ảnh của hai anh cũng đã phát rét rồi !  

Hay như anh Trần Hữu Duận, Kennedy của trường Phan Châu Trinh. Tổng Giám thị mà ăn nói nhỏ nhẹ, giọng Huế cứ như rót mật vào tai. Anh vẫn hay gọi phone thăm tôi và nhắc tôi tham dự Lễ giỗ cụ Phan hằng năm, hay đi tham gia ngày họp mặt và đóng góp bài vở cho đặc san.

Và các anh Trần Đại Cuộc, anh Vĩnh Vinh, anh Lê Long Viên, thầy Hoàng Bích Sơn từ Việt Nam qua mà tôi được gặp trong kỳ Đại hội năm trước. Và cũng mới gặp lại đây thôi qua những lần Đại hội trước, các anh chị Thái Doãn Ngà, Bác sĩ Tôn Thất Cần và chị Bội Hoàn, chị Nguyễn Đỗ Thu, chị Võ thị Hồng Diệp...

Nhắc đến trường Phan Châu Trinh là còn phải nhắc đến tình nghĩa thầy trò rất sâu đậm nữa. Trước khi về dạy tại đây, tôi đã dạy nhiều nơi ở Sài Gòn và ở Kiến Hoà, nơi nào học sinh cũng dành nhiều tình cảm cho thầy cô. Nhưng với các em học sinh cũ của tôi trong ba năm ngắn ngủi ở Phan Châu Trinh, các em đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên.

Còn nhớ trước ngày 29 tháng 3 năm 1975, ngày mất Đà Nẵng, gia đình tôi di tản vào Sài Gòn. Những ngày tháng buồn thảm đó không biết phải làm gì, nên anh em đồng nghiệp chúng tôi hẹn nhau tụ tập tại Viện Đại Học Sài Gòn ở đường Duy Tân. Ai chưa kịp lãnh lương ngày  29 tháng  3 ở Đà Nẵng thì được truy lãnh, nên chúng tôi có được thêm chút ít tiền tiêu. Rồi chúng tôi bàn tán về tương lai đất nước , tương lai của gia đình mỗi người, của chính mình. Nhưng chỉ là đoán mò. Ai nấy ruột gan cũng rối bời . Rôi Sài Gòn cũng mất vào ngày 30 tháng  4.

Phải hơn 10 ngày sau gia đình tôi mới mướn được một chiếc xe tải của người quen để về lại Đà Nẵng. Căn nhà chúng tôi đã bị niêm phong. Họ chỉ định cho gia đình năm người chúng tôi ở dưới bếp. Hai hôm sau, chưa kịp tĩnh hồn, thì các em học sinh cũ kéo đến thăm. Các em ôm Me tôi và vợ chồng con cái chúng tôi khóc và nói : “Tụi con tưởng Bà cùng em và thầy cô đi Mỹ rồi chớ ! Tại sao lại quay về ? “.

Phải tin tưởng nhau lắm mới dám hỏi những câu “ chết người “ như thế vào lúc đó. Và thầy thì cũng” gồng mình “ để trả lời thật với lòng mình :” Cũng tìm đường đi rồi đấy chứ mấy em, nhưng cung thiên di của Bà và gia đình thầy cô chưa được sáng lắm nên mới quay về để gặp lại các em đây “ .

Hôm sau cả đám thay nhau mang đến “ ủy lạo “ gia đình thầy cô nào là gạo , muối, đường, sữa, nước mắm, xì dầu...ôi thôi , hầm bà làng đủ thứ, “ để bà, thầy cô và em dùng tạm qua ngày”. Cả nhà nhận quà mà nước mắt cứ chảy ròng ròng xuống trên mặt. Thầy trò cùng ôm nhau khóc. Thương cho phận mình hay cho vận nước nổi trôi ? Có lẽ cả hai !

Hàng năm cứ đến những ngày lễ, Noel hay Tết âm lịch, tôi vẫn nhận được những tấm thiệp với những lời chúc thật dễ thương của các em. Bây giờ đã là những ông bà nội, ngoại hết cả rồi, nhưng một điều cũng “ thưa thầy, e...” hai điều cũng “ thưa thầy, em...”. Một số em hiện đang ở San Jose hay ở New York. Tất cả các em đều khá thành công trong công ăn việc làm và trên thương trường.

Ngôi trường của tôi đó, nơi tôi chỉ mới về dạy được có ba năm thì mất nước và phải bị đổi đi dạy tại trường khác ở Duy Xuyên cùng với 13 nam nữ giáo sư khác của Phan Châu Trinh và Hồng Đức. Nhưng tình cảm của trường, của bạn bè đồng nghiệp,của các em học sinh dành cho tôi thì quá nhiều.

Tháng 3 năm  2010 tôi có về Đà Nẵng, ghé thăm lại ngôi trường cũ trước khi nghe nói là sẽ bị đập phá đi. Một cô bạn đồng nghiệp dạy Anh văn đưa tôi đi viếng trường. Vào cổng gặp mấy người con của bác Tô Thau, bác cai trường ngày xưa, đang ngồi giữ cửa.

Tôi xin được vào thăm lại ngôi trường cũ, và hỏi thử xem mấy cô có còn nhớ tôi không ? .Mấy cô đáp : “ Dạ tụi con nhớ chớ. Thầy Trác phải không ? “ .

Thăm trường, chụp vài tấm hình lưu niệm và thắp nhang lạy tượng Cụ Phan Châu Trinh xong, tôi gửi mấy người con của bác cai trường ngày trước ít tiền nhờ mua trái cây và nhang đèn cúng bác Thau.

Vài ký ức ghi vội về một nơi chốn tôi đã trưởng thành trong việc giảng dạy và giao tiếp với bạn bè, xã hội.

Cám ơn ngôi trường đó của ngày xưa.

Bây giờ chỉ còn là kỷ niệm.

Phạm Ngọc Trác

( Cuối tháng 2 năm  2012 )

(ĐS Kỷ niệm 60 năm thành lập Trung học Phan Châu Trinh.Đại hội ngày 01 tháng 7 năm  tại  Anaheim, California )

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive



NgheDem 01


đêm, tiếng gió lao xao ngoài cửa

chuyến tàu qua gõ nhịp, buồn buồn

trăng đầu tháng soi nghiêng mất ngủ

ta với người cách mấy trăng suông ?

vẫn chuyến tàu đêm qua lặng lẽ

sao mùa xuân trở gió đêm nay

cà phê đắng buổi chiều với bạn

ta nhớ người buổi chiều mưa bay

những đóng mở thời gian rất vội

quán nào xanh bỡ ngỡ nhìn nhau

hai đầu con sóng chênh vênh ấy

chưa nắm tay quen mỏi mặt sầu

nghe mưa se nhỏ, mưa không lạnh

dường như tiếng thầm của trái tim

thơ dỗ dành nghe chiều lắng xuống

hỏi người về chăng đêm lặng im

Mạc Phương Đình

( ĐS kỷ niệm  55 năm thành lập Trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, Hải ngoại  2007 )